Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng đáp ứng xu thế và nhu cầu về sản xuất sạch

Thứ ba - 11/12/2018 02:52
Theo ông Nguyễn Văn Sơn, quyền Chủ tịch, kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) Việt Nam, từ năm 1995, Việt Nam đã sử dụng thuốc BVTV, lượng thuốc BVTV được sử dụng trên đồng ruộng nước ta vào khoảng 30.000-40.000 tấn/năm.
Theo PGS.TS Phạm Thị Vượng, Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam, trải qua gần 60 năm hình thành phát triển, không thể phủ nhận những đóng góp tích cực của hệ thống ngành BVTV trong đó có việc bảo vệ tốt năng suất cây trồng, ngăn chặn các dịch hại, góp phần đưa đất nước trở thành quốc gia hàng đầu về xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp với tổng giá trị 36,2 tỷ USD năm 2017. Trong đó, riêng ngành trồng trọt chiếm tới hơn 20 tỷ USD về kim ngạch xuất khẩu.
 
tieu chuan su dung thuoc bao ve thuc vat duoc quy dinh nhu the nao11495184960
(Hình minh họa)
 
Theo ông Nguyễn Văn Sơn, thuốc BVTV là những hợp chất nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp dùng để phòng trừ sinh vật gây hại cây trồng và nông sản. Sử dụng thuốc BVTV là cách diệt trừ dịch hại nhanh nhất, triệt để và có thể chặn đứng dịch hại trong thời gian ngắn nhất. Thuốc BVTV, nếu sử dụng đúng, bên cạnh việc diệt trừ sâu, bệnh, tăng năng suất, sản lượng cây trồng, còn giúp cải thiện mẫu mã sản phẩm, tạo điều kiện để thực hiện thương mại sản phẩm. Đặc biệt, khi Việt Nam tham gia xuất khẩu sản phẩm nông sản thì việc kiểm định này càng nghiêm ngặt, ngoài chất lượng thì mẫu mã cũng rất quan trọng. Nếu không có thuốc BVTV thì sản lượng rau, cây ăn quả sẽ giảm từ 30-50% và nhiều loại cây trồng như nho, táo, dưa chuột sẽ không cho thu hoạch.
 
Theo ông Hoàng Trung, Cục trưởng BVTV (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), bên cạnh những lợi ích mà thuốc BVTV mang lại, việc sử dụng thuốc BVTV không đúng cách sẽ gây nên nhiều hậu quả xấu như: làm mất an toàn thực phẩm, tác động tiêu cực tới sức khỏe, tuổi thọ của con người; gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, làm mất cân bằng sinh thái, kéo theo sự phá hoại của dịch hại ngày càng tăng, đời sống sinh hoạt của con người đảo lộn. Hiện nay, trên thị trường vẫn tồn tại một thực trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng của thuốc BVTV và một bộ phận kinh doanh không chân chính đã đưa những sản phẩm này ra thị trường làm ảnh hưởng đến người nông dân, đến các nhà sản xuất thuốc BVTV chân chính. Ngoài ra, để tăng năng suất, một bộ phận người dân đã cố tình chọn dùng những loại thuốc BVTV có tác dụng nhanh hoặc tự ý tăng liều lượng làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng sản phẩm nông nghiệp và môi trường. Trong khi đó, nhiều loại thuốc BVTV sinh học hoặc nguồn gốc sinh học rất an toàn cho môi trường nhưng do tác dụng chậm nên ít được sử dụng.
 
Muốn có sản phẩm sạch thì phải có một danh mục thuốc bảo vệ thực vật thật sự hiệu quả, an toàn, thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, hiện nay cơ sở dữ liệu và các căn cứ khoa học liên quan vấn đề này còn thiếu, việc loại bỏ thuốc bảo vệ thực vật khỏi danh mục gặp rất nhiều khó khăn. Số lượng thuốc bảo vệ thực vật trong danh mục hiện cũng đang mất cân đối, chủ yếu là thuốc phòng trừ sâu bệnh trên cây lúa, các đối tượng cây trồng khác chưa được tập trung phát triển. Hiện có khoảng 735 nhà máy sản xuất gần 20 nghìn sản phẩm phân bón nhưng lại chủ yếu là phân bón vô cơ; hơn 200 chỉ tiêu chất lượng, bao gồm cả vi sinh và hóa lý, đã được công bố trong các sản phẩm phân bón nhưng chưa có phương pháp thử được phê duyệt trong nước đang tạo ra áp lực không nhỏ cho công tác quản lý nhà nước.
 
Mục tiêu đặt ra là đến năm 2021, rút ngắn 30% số lượng tên thương phẩm trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam; tăng 30% lượng thuốc bảo vệ sinh học được đăng ký và sử dụng; tăng lượng phân bón hữu cơ sản xuất công nghiệp để sử dụng trong nước ít nhất là ba triệu tấn/năm; tăng tỷ lệ sản phẩm phân bón hữu cơ so với tổng số sản phẩm phân bón từ 5% hiện nay lên 10%. Để đạt được những mục tiêu này, theo ông Trung, đến nay, hành lang pháp lý phục vụ quản lý nhà nước về thuốc BVTV là tương đối đầy đủ.
 
Luật Bảo vệ và kiểm định thực vật đã chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2015. Đây là văn bản và cơ sở pháp lý cao nhất cho vấn đề quản lý, sử dụng, kinh doanh thuốc BVTV. Dưới Luật là một loạt các nghị định, thông tư giúp cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương thực thi tốt việc quản lý này từ khâu đăng ký, khảo nghiệm, kiểm tra chất lượng các loại thuốc BVTV được đưa ra sử dụng tại Việt Nam cũng như trước khi nhập khẩu. Việt Nam hiện đã có hơn 600 tiêu chuẩn cơ sở và quy chuẩn kỹ thuật phục vụ cho công tác từ khảo nghiệm cũng như công tác kiểm tra, kiểm định chất lượng thuốc BVTV nhằm đưa các sản phẩm đến tay người dân bảo đảm chất lượng, hiệu quả.
 
Trên cơ sở hành lang pháp lý trên, các danh mục thuốc BVTV của Việt Nam có 4.068 sản phẩm, trong đó có gần 1.000 sản phẩm có nguồn gốc sinh học. Đây là yếu tố quan trọng phục vụ tốt cho việc tiến tới nền nông nghiệp sạch và hữu cơ. Ngoài gần 1.000 sản phẩm sinh học thì có gần 400 loại thuốc BVTV khác có các hoạt chất thuộc thế hệ mới. Bộ thuốc BVTV hiện nay của Việt Nam được các nước trong khối ASEAN và các nước phát triển đánh giá là khá chuẩn và hầu hết là các thuốc thế hệ mới. Hàng năm, Cục BVTV và các chi cục các địa phương phối hợp với các hiệp hội, doanh nghiệp và tập đoàn lớn về thuốc BVTV đã tiến hành tổ chức tập huấn cho người nông dân. Mỗi năm, có ít nhất khoảng 200.000-300.000 nông dân được tham gia tập huấn sử dụng thuốc BVTV hiệu quả.
 
Nhằm tăng cường quản lý thuốc BVTV theo định hướng sản xuất nông nghiệp sạch, hữu cơ, phát triển bền vững, Cục cũng sẽ tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là cơ chế chính sách để đáp ứng tình hình sản xuất mới hiện nay, đặc biệt đáp ứng nền nông nghiệp sản xuất hữu cơ cũng như nền nông nghiệp sạch; Xây dựng và hoàn thiện ngay các quy chuẩn kỹ thuật liên quan tới việc kiểm tra, kiểm định chất lượng các loại thuốc BVTV để sớm được sản xuất và đến tay người sử dụng là những sản phẩm thực sự có hiệu quả và chất lượng.
 
Bên cạnh đó, tiếp tục đưa ra những chế tài và quy định rõ ràng hơn trong việc rà soát loại bỏ các loại thuốc BVTV độc hại và gây mất an toàn trong sản xuất nông nghiệp và đặc biệt ảnh hưởng đến sức khỏe con người, môi trường. Đồng thời, khuyến khích đưa các loại thuốc BVTV thế hệ mới và thuốc sinh học vào trong danh mục. Ngoài ra, nâng cao nhận thức và chuyển biến nhận thức của người dân. Đặc biệt, cần tiếp tục đấu tranh ngăn chặn các loại thuốc BVTV nhập lậu để làm lành mạnh hóa thị trường thuốc BVTV hiện nay, bảo đảm người dân được sử dụng những loại chất BVTV sinh học thế hệ mới…
 
Thực tế cho thấy, chỉ có 5 đến 10% số nông dân quan tâm đến sản xuất nông nghiệp sạch, cũng chỉ có 5% trong số đó tuân thủ quy tắc và thành công. Do ngại tuân thủ quy định, tiêu chuẩn; ngại áp dụng phương pháp mới; ngại ghi nhật ký đồng ruộng,... chính là các rào cản tâm lý lớn nhất của nông dân Việt Nam khi tham gia vào những mô hình sản xuất đòi hỏi phải đáp ứng tiêu chí cụ thể rất khắt khe. 
 
Để đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu, hướng tới hội nhập rước xu thế và nhu cầu về sản xuất sạch, bền vững gắn liền với bảo vệ môi trường, ông Nguyễn Xuân Cường - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: cần phải giảm lượng thuốc BVTV, tập trung vào nhóm thuốc trừ cỏ; nhóm thuốc trừ sâu, trừ bệnh, nhóm có độc tố cao mà được sản xuất từ những năm trước và đến bây giờ không còn phù hợp với sinh thái; nhóm thuốc sử dụng rất nhiều trên một đối tượng cây trồng. Bên cạnh đó, cần phải kiểm soát chặt thuốc nhập lậu qua biên giới, phải chấn chỉnh mạng lưới thuốc BVTV, phải minh bạch và quản lý thông qua các chi cục BVTV địa phương.
 
Việt Nam với hơn 10 triệu nông hộ với quy mô rất nhỏ, lẻ thì việc tiếp cận đến toàn bộ người nông dân để hướng dẫn các kiến thức về nông học và sử dụng thuốc BVTV theo nguyên tắc 4 đúng (đúng thuốc, đúng nồng độ liều lượng, đúng lúc và đúng cách) là một thách thức, không những đối với cơ quan nhà nước mà cả các công ty trong lĩnh vực thuốc BVTV. Đồng thời, cần có các chính sách khuyến khích các nhà sản xuất, phân phối và người nông dân sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Khuyến khích các doanh nghiệp khảo nghiệm nghiên cứu, mở rộng sản xuất các nhóm thuốc BVTV sinh học để thay thế dần nhóm thuốc hóa học… 
 
Nhật Long

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Theo bạn, giao diện Cổng thông tin điện tử của Sở Y tế Hà Nội?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập60
  • Hôm nay6,977
  • Tháng hiện tại158,795
  • Tổng lượt truy cập6,287,693
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây