Khó khăn trong dự phòng và kiểm soát UTCTC tại Việt Nam

Thứ hai - 17/10/2016 08:59
Mỗi năm trên thế giới có gần 500.000 người mắc UTCTC, trên 270.000 trường hợp tử vong. Hàng năm, nước ta có trên 5000 trường hợp mắc UTCTC và hơn 2000 trường hợp tử vong vì bệnh này.
Các yếu tố nguy cơ của UTCTC bao gồm quan hệ tình dục sớm hoặc với nhiều người, mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục; sử dụng thuốc tránh thai đường uống loại phối hợp kéo dài trên 10 năm, hoặc nhiễm HIV…Các trường hợp UTCTC có thể được phòng ngừa bằng cách sàng lọc, phát hiện sớm và điều trị các thương tổn tiền ung thư.
 
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã có khuyến cáo về các phương pháp dự phòng và kiểm soát UTCTC và nhiều quốc gia trên thế giới đã triển khai, bao gồm dự phòng cấp 1, dự phòng cấp 2 và dự phòng cấp 3.
 
Tiêm vắc xin HPV (dự phòng cấp 1)
 
Việt Nam là một trong 4 quốc gia (cùng với Ấn Độ, Peru và Uganda) tham gia vào chương trình toàn cầu và toàn diện về UTCTC, giảm UTCTC qua tiêm vắc xin, sàng lọc và điều trị UTCTC. Chương trình này do quỹ Bill & Melinda Gates Foundation tài trợ, được PATH triển khai cùng với các đối tác khác như Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương và Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y tế.
 
Vắc-xin HPV hiện đang được cung cấp dưới dạng vắc-xin dịch vụ cho trẻ em nữ và phụ nữ trong độ tuổi 9 - 26 với liệu trình 3 mũi tiêm trong vòng 6 tháng. Từ năm 2009 đến tháng 12/2015 đã có khoảng 514.000 liều vắc-xin Cervarix và 811.000 liều vắc-xin Gardasil được nhập vào Việt Nam, số phụ nữ được tiêm ước tính là 350.000 - 400.000 phụ nữ. Chi phí cho liệu trình 3 mũi tiêm trong khoảng 2.400.000 đến 4.000.000 đồng. 
 
Công tác sàng lọc UTCTC (dự phòng cấp 2)
 
Việt Nam đã có hệ thống sàng lọc UTCTC nhưng còn nhiều hạn chế do địa hình phức tạp và hầu hết là chương trình bị động, dựa trên chẩn đoán triệu chứng; mặt khác phác đồ sàng lọc chưa được thống nhất là rào cản lớn nhất trong việc chuẩn hóa các dịch vụ sàng lọc.
 
Sàng lọc và điều trị UTCTC cũng là vấn đề được đưa vào Chiến lược Quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 - 2010 với mục tiêu tăng “tỷ lệ cơ sở y tế cung cấp chẩn đoán sớm” lên 50%. Chiến lược kiểm soát ung thư Quốc gia 2008 - 2010 cũng có mục tiêu tăng tỷ lệ chẩn đoán ung thư ở giai đoạn sớm từ 20% - 30%. Trong Chương trình Kiểm soát Ung thư Quốc gia giai đoạn 2010 - 2020 tỷ lệ này được tăng lên 50%. Tuy nhiên chưa có kế hoạch triển khai chi tiết và thiếu nhân lực cũng như tài chính để thực hiện các chiến lược này. Hệ thống các phòng xét nghiệm tế bào cổ tử cung chỉ sẵn có ở tuyến tỉnh và tuyến trung ương, ở tuyến huyện là không đáng kể. Đội ngũ nhân lực được đào tạo còn thiếu thốn và công tác đảm bảo chất lượng tại các đơn vị xét nghiệm này chưa được chú trọng, kết quả là sàng lọc UTCTC chưa được triển khai trên diện rộng.
 
Từ tháng 3/2009 - 3/2011, Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y tế và Tổ chức PATH đã triển khai Dự án “Tăng cường dự phòng thứ cấp UTCTC tại Việt Nam” tại 3 Tỉnh Thanh Hóa, Thừa Thiên - Huế và Cần Thơ. Trong dự án này, VIA - phương pháp quan sát cổ tử cung bằng mắt thường với dung dịch acid acetic 3 đến 5% được sử dụng để sàng lọc tổn thương cổ tử cung tại tất cả các tuyến, đặc biệt là tuyến xã. Các trường hợp bất thường phát hiện được xử trí theo quy định, trong đó phần lớn được điều trị ngay hoặc trì hoãn ngắn tại tuyến huyện bằng phương pháp áp lạnh cổ tử cung. Các trường hợp vượt quá chỉ định điều trị áp lạnh được chuyển lên tuyến tỉnh, trung ương và được điều trị với phương pháp LEEP. Đã có 38.187 phụ nữ trong độ tuổi 30 - 49 tuổi được sàng lọc bằng VIA, trong đó tỷ lệ VIA dương tính là 3%.
 
Năm 2011, Bộ Y tế đã xây dựng và ban hành "Hướng dẫn sàng lọc, điều trị tổn thương tiền ung thư để dự phòng thứ cấp UTCTC” đã giúp cho nhiều tỉnh triển khai công tác sàng lọc UTCTC bằng cách phối hợp giữa xét nghiệm tế bào cổ tử cung và sàng lọc bằng VIA ở tất cả 3 tuyến y tế.
 
Công tác điều trị UTCTC (dự phòng cấp 3)
 
Một trong những khó khăn chính để triển khai rộng là sự chồng chéo trong hệ thống điều trị ung thư ở Việt Nam. UTCTC được điều trị bởi bệnh viện ung bướu, được chuyển lên từ các khoa ung thư của bệnh viện tỉnh, nhưng do liên quan đến đường sinh sản nên bệnh cũng được điều trị (và phẫu thuật) tại các bệnh viện phụ sản, trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, khoa sản các bệnh viện, bệnh viện sản nhi. Bên cạnh hai loại hình này, y tế tư nhân ngày càng phát triển và thu hút ngày càng nhiều bệnh nhân hơn. Mặt khác việc chưa thống nhất phác đồ xử trí ung thư, bao gồm điều trị và chăm sóc giảm nhẹ tại các tuyến và các cơ sở y tế là rào cản lớn nhất trong công tác đảm bảo chất lượng và triển khai đồng bộ công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân UTCTC.  
 
Như vậy, ở Việt Nam cả 3 cấp độ dự phòng UTCTC đều phải đối mặt với sự thiếu hụt về nhân lực được đào tạo bài bản và có trình độ được chuẩn hóa, đồng thời sự biến động nhân lực và các hạn chế, thiếu hụt về cơ sở vật chất và trang thiết bị chuyên ngành làm cho tỷ lệ cán bộ nhân viên tiếp tục thực hành cung cấp dịch vụ sau đào tạo giảm xuống đáng kể. 

 

Ưu tiên cho công tác phòng chống UTCTC
 
Để từng bước khắc phục khó khăn, nâng cao hiệu quả của các phương pháp dự phòng và kiểm soát UTCTC, Việt Nam xác định 6 ưu tiên cho công tác phòng chống UTCTC giai đoạn 2016-2020.
 
Đó là xác định mục tiêu dựa trên các định hướng trong nước và quốc tế về chăm sóc sức khỏe. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ công tác dự phòng và kiểm soát UTCTC với các chương trình y tế liên quan như chương trình Làm mẹ an toàn, DS-KHHGĐ, HIV/AIDS, phòng chống ung thư quốc gia, dự phòng các bệnh không lây… và các chương trình xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội khác.
 
Tăng cường nhận thức của các cấp chính quyền và nâng cao sự hiểu biết của cộng đồng, bao gồm cả các nhân viên y tế về UTCTC và các biện pháp dự phòng, kiểm soát UTCTC. Xây dựng kế hoạch can thiệp dựa trên các bằng chứng khoa học thu được từ các cuộc điều tra, khảo sát và nghiên cứu khoa học. Đi đôi với việc tăng cường tính sẵn có và chất lượng của mạng lưới cung cấp dịch vụ, cần tăng cường mức độ sử dụng dịch vụ của người dân thông qua việc truyền thông, giáo dục sức khỏe, hạn chế những rào cản,  khó khăn khi tiếp cận đến dịch vụ dự phòng và kiểm soát UTCTC.
 
Tiếp tục củng cố hệ thống thông tin về sức khỏe bà mẹ - trẻ em, trong đó có các nội dung về dự phòng và kiểm soát UTCTC, bao gồm cả những thông tin từ hệ thống y tế trong và ngoài công lập, nâng cao chất lượng thu thập, báo cáo và sử dụng thông tin dữ liệu phục vụ cho công tác lập kế hoạch dựa trên bằng chứng và công tác tuyên truyền vận động nguồn lực, chính sách cho các mục tiêu về dự phòng và kiểm soát UTCTC.
 
Hạnh Ngân

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập86
  • Máy chủ tìm kiếm23
  • Khách viếng thăm63
  • Hôm nay8,667
  • Tháng hiện tại143,982
  • Tổng lượt truy cập1,855,832
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây