Ung thư cổ tử cung - Căn bệnh chết người nhưng hoàn toàn có thể phòng tránh được

Chủ nhật - 16/10/2016 11:34
Ung thư cổ tử cung (UTCTC) thường gặp từ độ tuổi 30 trở đi, đứng hàng thứ hai trong các ung thư sinh dục ở nữ giới về tỷ lệ mắc cũng như tỷ lệ tử vong.
Thống kê của Viện Sức khỏe sinh sản và Gia đình (Bộ Y tế), mỗi ngày, nước ta có 9 phụ nữ tử vong do UTCTC. Cứ khoảng 100.000 phụ nữ thì có 20 trường hợp mắc UTCTC với 11 trường hợp tử vong. Mỗi năm, có trên 5000 trường hợp mắc và hơn 2000 trường hợp tử vong vì bệnh này.
 
Một trong những lý do dẫn đến tình trạng này là phụ nữ chưa được sàng lọc định kỳ và có hệ thống để phát hiện sớm ung thư qua các xét nghiệm thích hợp, dễ tiếp cận; và khi phát hiện tổn thương tiền ung thư thì cũng chưa được điều trị kịp thời và hiệu quả. Bên cạnh đó, nhận thức của phụ nữ ở nhiều vùng nông thôn về tầm quan trọng của việc sàng lọc UTCTC còn hạn chế, tỷ lệ khám sàng lọc còn thấp và chủ yếu là thụ động, trong khi đó công tác tiêm phòng ngừa UTCTC chưa được triển khai rộng rãi tại Việt Nam.
 
Nhiễm một hoặc nhiều typ Human Papillomavirus (HPV) nguy cơ cao đã được khẳng định là nguyên nhân tiên phát của UTCTC. HPV là tác nhân truyền qua đường tình dục. Nguy cơ nhiễm HPV ít nhất 1 lần trong đời của người phụ nữ là khoảng 80%, với tỷ lệ nhiễm cao nhất xảy ra trong độ tuổi 20 - 30, có thể lên đến 20 - 25%. Sau lần nhiễm HPV đầu tiên, khoảng 5 - 10% các trường hợp có thể hình thành các biến đổi ở cổ tử cung do HPV. Đại đa số các trường hợp nhiễm HPV sẽ tự khỏi. Nếu người phụ nữ nhiễm HPV nguy cơ cao và phối hợp với các yếu tố nguy cơ khác, tổn thương ban đầu có thể tồn tại và tiến triển trong khoảng 10 - 20 năm qua các giai đoạn tân sản nội biểu mô để hình thành ung thư cổ tử cung xâm lấn.
 
Các yếu tố nguy cơ của UTCTC bao gồm quan hệ tình dục sớm hoặc với nhiều người, sinh nhiều con, vệ sinh sinh dục không đúng cách, viêm cổ tử cung mạn tính, nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, điều kiện dinh dưỡng, kinh tế xã hội thấp; hút thuốc lá, đái tháo đường, sử dụng thuốc tránh thai đường uống loại phối hợp kéo dài (> 10 năm), nhiễm HIV.
 
Thống kê của Bộ Y tế cũng cho thấy, UTCTC tạo ra các gánh nặng bệnh tật lớn cho người bệnh, gia đình, hệ thống y tế và toàn xã hội. Năm 2012, tổng gánh nặng trực tiếp của UTCTC khoảng 1755 tỷ đồng, xếp thứ 4 và chiếm khoảng 0,015% tổng GDP; gánh nặng gián tiếp khoảng 418 tỷ đồng, xếp thứ 5 trong số 6 loại bệnh ung thư thường gặp nhất.
 
Ung thư cổ tử cung là bệnh nguy hiểm nhưng có thể làm giảm tử vong và gánh nặng cho gia đình và xã hội nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Do khoảng thời gian hình thành và tồn tại tổn thương tiền ung thư ở cổ tử cung tương đối dài; yếu tố nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ đã được xác định; mặt khác cổ tử cung là bộ phận có thể tiếp cận trực tiếp để quan sát, thăm khám, lấy bệnh phẩm và thực hiện các can thiệp điều trị nên đại đa số các trường hợp UTCTC có thể được phòng ngừa bằng cách sàng lọc, phát hiện sớm và điều trị các thương tổn tiền ung thư.
 
Theo GS.TS Nguyễn Thị Hoài Đức, Viện trưởng Viện Sức khỏe sinh sản và Gia đình, nếu UTCTC nếu phụ nữ có tầm soát thì mức độ phát triển ung thư là 0,7% và nếu không tầm soát sẽ là 2,5%. Hơn 10 năm không tầm soát thì nguy cơ UTCTC tăng 12 lần. Do đó, quá trình khám sàng lọc UTCTC là rất quan trọng, nhằm phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư. Phụ nữ nhóm tuổi 30-50 được khuyến cáo cần khám phụ khoa, xét nghiệm tế bào cổ tử cung định kỳ để phát hiện sớm và điều trị kịp thời các tổn thương cổ tử cung nhằm giảm tỷ lệ ung thư.
 
Mai Phương

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập83
  • Máy chủ tìm kiếm25
  • Khách viếng thăm58
  • Hôm nay8,667
  • Tháng hiện tại143,977
  • Tổng lượt truy cập1,855,827
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây