Cải thiện tình trạng Dân số - KHHGĐ cho vị thành niên, thanh niên giai đoạn 2016 - 2020:Cách tiếp cận mới về truyền thông, giáo dục

Thứ tư - 29/03/2017 11:41
Để cải thiện tình trạng thiếu hiểu biết về dân số, sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình (SKSS/KHHGĐ) của vị thành niên, thanh niên (VTN/TN), cần một cách tiếp cận mới, một kế hoạch truyền thông, giáo dục chuyên biệt và đồng bộ.
Hiểu biết và thực hành về sức khoẻ sinh sản còn hạn chế
 
Thực tế tại Việt Nam cho thấy, hiện nay dù tuổi dậy thì và tuổi quan hệ tình dục lần đầu của VTN/TN trẻ hơn nhưng hiểu biết về SKSS của VTN/TN Việt Nam lại còn nhiều hạn chế. Theo điều tra quốc gia Vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY2), tỷ lệ VTN/TN trả lời đúng về thời điểm có thai trong chu kỳ kinh nguyệt là rất thấp và giảm qua hai cuộc điều tra gần đây; VTN/TN biết khả năng mang thai sau khi quan hệ tình dục lần đầu là không cao: 69,5% cho rằng là “có thể”; nhưng 10,8% là “không thể” và có tới gần 20% lại “không biết tới”; tỷ lệ VTN/TN không lường trước được hậu quả của quan hệ tình dục trước hôn nhân cũng khá cao, tới 56%; có từ 37,5% đến 75,4% VTN/TN chưa nghe nói về các bệnh giang mai, lậu, trùng roi, sùi mào gà và mụn rộp.
 
Cũng theo SAVY2, nếu như có 74,2% VTN/TN từng nói về đề tài “tình yêu” thì có tới gần 60% VTN/TN chưa từng nói với ai về vấn đề “thai nghén - KHHGĐ”. Nguồn thông tin chủ yếu mà VTN/TN nam biết đến “tuổi dậy thì” là qua tivi (66,7%) và nữ là qua mẹ (60,8%); các nguồn còn lại là rất ít.
 
Từ những thực trạng về hiểu biết, hành vi, xu hướng nói trên, các chuyên gia khẳng định, nhu cầu về truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi cho VTN/TN là rất lớn. Trong khi đó, các hình thức truyền thông hiện nay còn phân tán, thiếu gắn kết, thống nhất về nội dung, phương pháp truyền thông; mỗi hình thức truyền thông do nhiều tổ chức khác nhau thực hiện. Tổ chức và người cung cấp kiến thức và kỹ năng thực hành cho VTN/TN cũng không phải là đội ngũ chuyên nghiệp mà là tổ chức, cán bộ truyền thông chung cho mọi đối tượng. Mặt khác, chưa có chuẩn kiến thức, kỹ năng thực hành các vấn đề Dân số - KHHGĐ cho VTN/TN; chưa thống nhất trong việc phân nhóm đối tượng phù hợp với hình thức truyền thông; chưa có các vấn đề, chủ đề ưu tiên cho VTN/TN trong từng giai đoạn trong từng nhóm đối tượng theo từng địa bàn. Nội dung truyền thông, giáo dục lại thiếu cụ thể nhằm hướng dẫn kỹ năng sống về lĩnh vực nhạy cảm như SKSS/SKTD, tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân, kết hôn cận huyết thống, tầm soát bệnh tật bẩm sinh.
 
Cần một cách tiếp cận mới
 
Theo bác sĩ Mai Xuân Phương, Phó vụ trưởng Vụ Truyền thông - Giáo dục, Tổng cục Dân số - KHHGĐ, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới, có một vị thế mới, vị thế này đòi hỏi chúng ta phải có một cách tiếp cận mới, hiệu quả để có thể cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/KHHGD cho cộng đồng, đặc biệt là nhóm dễ bị tổn thương và nhóm yếu thế một cách chất lượng, chuyên nghiệp nhất. Cách tiếp cận mới này cần phải được xây dựng dựa trên nhận thức đầy đủ rằng thanh niên có thể ra những quyết định đúng đắn khi các em được cung cấp thông tin đầy đủ và các em được tạo một môi trường thuận lợi và kiến tạo. Trong môi trường này, các em được cung cấp thông tin và dịch vụ đúng lúc, phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng sẵn có.
 
Bên cạnh đó, theo ông Phương cần khuyến khích, động viên những sáng kiến, giải pháp mới nhằm thúc đẩy cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/KHHGĐ cho thanh niên và tạo điều kiện cho thanh niên tham gia vào thiết kế các chương trình đó, đây sẽ là nơi mà các em sẽ được ra quyết định thông tin nào các em cần, dịch vụ nào phù hợp với các em và đâu là dịch vụ hiệu quả nhất để đáp ứng nhu cầu của các em.
 
Để xây dựng và triển khai một cách tiếp cận mới, để VTN/TN tiếp cận được với các thông tin và dịch vụ SKSS/KHHGĐ có chất lượng, dự thảo Đề án Cải thiện tình trạng Dân số- SKSS/KHHGĐ cho thanh niên, vị thành niên giai đoạn 2016 - 2020 nêu rõ, truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi là nhiệm vụ và hoạt động chủ yếu, cốt lõi. Theo đó, cần xây dựng một chương trình truyền thông chuyên biệt và đồng bộ, mô hình truyền thông chuyên biệt cho VTN/TN được xác định là việc giáo dục, truyền thông về kiến thức và kỹ năng thực hành về SKSS/KHHGĐ cho VTN/TN. Thông qua việc truyền thông qua gia đình; xây dựng và nhân rộng các mô hình,góc truyền thông giáo dục do giáo viên được trang bị kiến thức về Dân số -SKSS/KHHGĐ cho VTN/TN chủ trì; phối hợp với các đơn vị chức năng của đoàn thanh niên, hội phụ nữ, công đoàn, chủ doanh nghiệp, các tổ chức xã hội...; tổ chức các hoạt động truyền thông đối với nhóm VTN/TN yếu thế; lập điểm tư vấn, truyền thông chuyên biệt về Dân số - SKSS/KHHGĐ cho VTN/TN....
 
Mặt khác, hoạt động truyền thông này phải được thực hiện bởi những người không chỉ có kiến thức chuyên môn và kỹ năng truyền thông về Dân số - SKSS/KHHGĐ mà còn được trang bị kiến thức về tâm sinh lý của VTN/TN, kỹ năng tiếp cận, làm việc với VTN/TN, bảo đảm tính riêng tư, bảo mật, đồng cảm, tế nhị, bình đẳng, không phán xét. Phương thức truyền thông phải chuyên biệt, phù hợp phụ thuộc vào đặc điểm riêng biệt của từng nhóm đối tượng.
 
Quang Tuấn
(Nguồn Báo Đại biểu nhân dân)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Theo bạn, giao diện Cổng thông tin điện tử của Sở Y tế Hà Nội?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập38
  • Máy chủ tìm kiếm12
  • Khách viếng thăm26
  • Hôm nay5,214
  • Tháng hiện tại107,570
  • Tổng lượt truy cập1,670,003
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây