Cần huy động cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên

Thứ hai - 11/02/2019 03:32
Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên (SKSS VTN, TN) là một trong những yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực và tương lai của giống nòi. Đây cũng là chiến lược quốc gia trong những năm gần đây.
Vẫn còn đối mặt với nhiều bất cập
 
TS Nguyễn Bá Thủy - Chủ tịch Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam cho biết, chăm sóc SKSS VTN, TN là một lĩnh vực khá mới ở Việt Nam nhưng đã được coi là một trong những ưu tiên trong chiến lược quốc gia về SKSS giai đoạn 2001 - 2010, chiến lược Dân số - SKSS giai đoạn 2010 - 2020. Việt Nam cũng đã tiến hành điều tra quốc gia VTN, TN thông qua 2 cuộc điều tra năm 2003 (SAVY I) và 2008 (SAVY II) để cung cấp cái nhìn và quan điểm đại diện cho thanh thiếu niên ở độ tuổi 14 - 25 về nhiều vấn đề: giáo dục, đào tạo, việc làm, sức khỏe tình dục và SKSS, rượu, bia, thuốc lá... SAVY là cuộc điều tra lớn nhất và toàn diện nhất lần đầu tiên được tiến hành ở Việt Nam do Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê chủ trì với sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của Tổ chức Y tế thế giới (WHO).
 
Qua điều tra cho thấy, tuổi quan hệ tình dục lần đầu trung bình của thanh niên có xu hướng giảm từ 19,6 tuổi ở SAVY I xuống còn 18,1 tuổi ở SAVY II. Kiến thức về mang thai ở thanh thiếu niên ở cả 2 cuộc điều tra còn rất hạn chế và dường như không có tiến bộ đáng kể nào giữa 2 cuộc điều tra. Dựa trên các kết quả chính từ cuộc điều tra SAVY I năm 2003, kế hoạch tổng thể quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và tăng cường chăm sóc SKSS VTN, TN giai đoạn 2006 - 2010 và tầm nhìn tới 2020 đã được xây dựng và thực hiện từ năm 2006.  Quyết định 4617/2007-QĐ-BYT của Bộ Y tế về thực hiện hướng dẫn triển khai các dịch vụ chăm sóc SKSS và tình dục, thân thiện với thanh niên. Từ năm 2008, chăm sóc SKSS đã trở thành một đề án trong chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống bệnh tật - trong đó sức khỏe tình dục và sinh sản của VTN là một hợp phần chính với nhiều loại can thiệp được tiến hành.
 
Thông qua các hoạt động tích cực, việc chăm sóc SKSS VTN, TN đã phần nào được chú trọng và nâng cao. Tuy nhiên so với thực tế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số. Theo số liệu điều tra của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, trên 9.768 thanh, thiếu niên trong độ tuổi 10 - 24 ở 8 tỉnh và thành phố vẫn thiếu kiến thức và thực hành về chăm sóc SKSS. Trong đó, 7,8% VTN, TN trong độ tuổi 15 - 18 đã quan hệ tình dục trước 15 tuổi và chỉ có 54% có sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên. Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai không liên tục là 40,5%. Rất ít VTN tham vấn với cha mẹ, thầy cô giáo trong tìm hiểu thông tin và dịch vụ SKSS, sức khỏe tình dục. Chính việc thiếu kiến thức đó đã gây ra những hệ lụy báo động như nạo phá thai, mắc các bệnh tình dục, nhiễm HIV/AIDS… Đáng chú ý tình trạng phá thai Việt Nam đang ở mức cao với 250.000 - 300.000 ca mỗi năm. Theo số liệu báo cáo chưa đầy đủ, năm 2017 cứ 1000 phụ nữ có thai thì có 24 trường hợp ở tuổi VTN.
 
Linh 11 10 DSC 0919
Cần chăm sóc sức khỏe toàn diện cho trẻ VTN, TN, đặc biệt là về vấn đề SKSS.
 
Nâng cao chất lượng chăm sóc SKSS VTN, TN
 
Theo TS Nguyễn Bá Thủy, trở ngại lớn nhất dẫn đến thực trạng thiếu kiến thức về SKSS VTN, TN chính là cung ứng không đủ các dịch vụ và thông tin cần thiết cho nhóm đối tượng lớn này. Việc giáo dục giới tính ở nước ta còn bị coi nhẹ với tâm lý vẽ đường cho hươu chạy. Thêm nữa là thành kiến của xã hội đối với quan hệ tình dục tiền hôn nhân và việc nữ thanh thiếu niên chưa lập gia đình sử dụng các biện pháp tránh thai. Mặt khác, các dịch vụ SKSS và thông tin dành cho trẻ VTN, TN chưa được đầu tư đầy đủ. Hầu hết các chương trình và hoạt động mới chỉ là các dự án thí điểm với nguồn tài chính chủ yếu từ tài trợ quốc tế, chưa được nhân rộng và không mang tính bền vững. Việc tổ chức các chương trình chăm sóc SKSS ít có sự tham gia của lớp trẻ cũng khiến hiệu quả mang lại không cao khi tiếng nói, nguyện vọng của đối tượng chính chưa thực sự được lắng nghe và đáp ứng.
 
Để nâng cao hơn nữa chất lượng chăm sóc SKSS VTN, TN, TS Nguyễn Bá Thủy  cho rằng, trước hết cần đẩy mạnh hơn nữa hoạt động thông tin, giáo dục truyền thông về ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ SKSS cho VTN, TN trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và trong cộng đồng. Từ đó giúp xác định đúng thái độ, hành vi đối với vấn đề này. Mặt khác nâng cao nhận thức của VTN, TN trên các mặt: giáo dục giới tính, phòng chống tệ nạn xã hội và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS... Ưu tiên nhiều hơn đến những VTN, TN sống ở nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, nhà nghèo, gia đình có người mắc tệ nạn xã hội. Việc đầu tư cho sức khỏe nói chung và sức khỏe VTN, TN nói riêng chính là đầu tư cho tương lai đất nước. Vì vậy, cần huy động sức mạnh của cả cộng đồng, trong đó phải chú ý tăng cường phối hợp giữa cha mẹ, người thân với bạn bè, các thầy cô giáo, cán bộ đảng viên và chính quyền cùng chung tay thực hiện công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, trong đó có việc thực hiện tốt chăm sóc SKSS VTN, TN.
 
Nhã Khanh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập67
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm65
  • Hôm nay7,835
  • Tháng hiện tại171,355
  • Tổng lượt truy cập6,300,253
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây