Chính sách dân số trong thời kỳ mới

Thứ bảy - 28/10/2017 07:24
Sau 25 năm thực hiện Nghị quyết T.Ư 4, khóa VII về chính sách Dân số - KHHGĐ, mức sinh của Việt Nam đã giảm nhanh, hiện đạt mức thấp. Mục tiêu "bình quân mỗi gia đình hai con" đã đạt được sớm 10 năm so với thời hạn Nghị quyết Trung ương 4, khóa VII đề ra, và mô hình "gia đình hai con" đang trở nên phổ biến. Mức sinh thấp đã nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội.
Theo GS.TS Nguyễn Đình Cử - Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Nghiên cứu Dân số, Gia đình và Trẻ em, công tác dân số của Việt Nam có 5 vấn đề cần lưu ý. Thứ nhất, Việt Nam đang trong thời kỳ cơ cấu dân số "vàng", với số người trong độ tuổi lao động hơn gấp đôi số người phụ thuộc. Cơ cấu dân số "vàng" sẽ chấm dứt vào khoảng đầu thập niên 40 của thế kỷ này. Vì vậy, nếu không khai thác nhanh và hiệu quả, cơ hội "vàng" sẽ bị bỏ qua. Thứ hai, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh nghiêm trọng. Năm 2015, cứ 100 bé gái được sinh ra thì tương ứng có tới gần 113 bé trai. Nếu không được cải thiện, tình trạng này sẽ dẫn đến sự phát triển không bền vững về mặt xã hội. Thứ ba, năm 2011, tỷ lệ người cao tuổi ở nước ta đã đạt 10%, tức là bước vào giai đoạn già hóa và thuộc nhóm nước già hóa nhanh nhất thế giới. Trong khi đó, Việt Nam chưa có sự chuẩn bị tốt để thích ứng một xã hội già hóa, chăm sóc và phát huy giá trị người cao tuổi. Thứ tư, mặc dù tỷ lệ dân thành thị thấp nhưng tốc độ di cư, đô thị hóa, tích tụ dân số diễn ra khá mạnh. Việc tích tụ dân số với mật độ rất cao cũng dẫn tới nhiều áp lực lên hạ tầng cơ sở; gây ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường…Thứ năm, chất lượng dân số tăng lên, nhưng chưa cao, bằng chứng là Việt Nam chưa khi nào lọt vào tốp 100 nước có Chỉ số phát triển con người (HDI) cao nhất.
 
GS Nguyễn Đình Cử cho biết, do tình hình dân số đã có những thay đổi, tác động sâu rộng đến sự phát triển bền vững của đất nước, cho nên, công tác dân số trở thành nội dung quan trọng trong Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Ðảng khóa XII diễn ra vừa qua. Nghị quyết của Hội nghị đã khẳng định: "Chuyển trọng tâm chính sách dân số từ KHHGÐ sang dân số và phát triển". Ðây là chủ trương lớn của Ðảng, là bước ngoặt lịch sử trong chính sách dân số của nước ta, sự khác biệt với chính sách dân số từ năm 1961 đến nay, vốn chủ yếu tập trung vào giảm sinh.
 
Với quan điểm chỉ đạo dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác dân số là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết vừa lâu dàu; là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ KHHGĐ sang dân số và phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số phải đặt trong mối mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh bảo đảm phát triển nhanh và bền vững.
 
Chính sách dân số phải bảo đảm cân bằng, hài hoà giữa quyền và nghĩa vụ của mọi người dân; giữa việc tuyên truyền vận động, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi với thực thi nghiêm kỷ cương pháp luật; giữa việc mở rộng, ứng dụng các kỹ thuật mới với việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.
 
Trung ương Đảng cho rằng, đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa; tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số.
 
Nghị quyết số 21 của Ban chấp hành Trung ương Đảng xác định một số mục tiêu công tác dân số đến năm 2030:Duy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con), quy mô dân số 104 triệu người. Tỷ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống; tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt 22%; tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt 11%; tỷ số phụ thuộc chung đạt 49%. Tỷ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn đạt 90%; 70% phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất; 90% trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất. Tuổi thọ bình quân khoảng 75 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; 100% người cao tuổi có thẻ BHYT, được quản lý sức khỏe, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung. Chiều cao người Việt Nam 18 tuổi đối với nam đạt 168,5 cm, nữ đạt 157,5 cm. Chỉ số Phát triển con người (HDI) nằm trong nhóm 4 nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á.
 
Để thực hiện các chỉ tiêu trên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp về công tác dân số, tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách từ tập trung vào KHHGĐ sang giải quyết toàn diện các vấn đề quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số. Đưa công tác dân số, đặc biệt là nâng cao chất lượng dân số thành một nội dung trọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo cấp uỷ, chính quyền các cấp. Đề cao tính tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chủ trương chính sách về công tác dân số, nhất là sinh đủ 2 con, chú trọng nuôi dạy con tốt, gia đình hạnh phúc, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội.
 
Tiếp tục thực hiện cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng nên có 2 con, bảo đảm quyền và trách nhiệm trong việc sinh con và nuôi dạy con tốt. Tập trung vận động sinh ít con hơn ở vùng, đối tượng có mức sinh cao; duy trì kết quả ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế; sinh đủ 2 con ở những nơi có mức sinh thấp.
 
Nghị quyết số 21 của Ban chấp hành Trung ương Đảng chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về dân số gắn với xây dựng gia đình hạnh phúc. Rà soát các quy định về xử lý vi phạm trong công tác dân số. Kiện toàn hệ thống thanh tra chuyên ngành dân số, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm. Rà soát, bổ sung các quy định của pháp luật về nghiêm cấm lựa chọ giới tính thai nhi. Ngăn ngừa có hiệu quả việc lạm dụng khoa học - công nghệ để lựa chọn giới tính thai nhi. Đẩy mạnh công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ.
 
Ban chấp hành Trung ương Đảng chỉ đạo trong thời gian tới cần tiếp tục củng cố mạng lưới dịch vụ KHHGĐ. Phát triển mạng lưới cung cấp các dịch vụ tầm soát, chẩn đoán sớm bệnh tật trước sinh, sơ sinh, hỗ trợ sinh sản, tư vấn kiểm tra sức khỏe sinh sản trước hôn nhân. Tăng cường kết nối, hợp tác với các cơ sở cung cấp dịch vụ ngoài công lập. Đổi mới phương thức cung cấp, đưa dịch vụ tới tận người sử dụng; thúc đẩy cung cấp dịch vụ qua mạng.
 
Sắp xếp lại hệ thống các cơ sở bảo trợ xã hội công lập theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa, tạo lập môi trường thân thiện, hòa nhập giữa các nhóm đối tượng và với xã hội. Phát triển mạnh hệ thống chuyên ngành lão khoa trong các cơ sở y tế. Khuyến khích mạnh mẽ phát triển các cơ sở chăm sóc người cao tuổi; cơ sở cung cấp các loại hình dịch vụ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, văn hóa, giải trí của người cao tuổi.
 
Ưu tiên đầu tư nguồn lực nhà nước, đồng thời huy động nguồn lực xã hội phát triển các cơ sở cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản bảo đảm các nhóm dân số đặc thù như trẻ em, người khuyết tật, người bị di chứng chiến tranh, người cao tuổi, đồng bào dân tộc ít người, người di cư… đều thực sự bình đẳng về cơ hội tham gia, thụ hưởng thành quả phát triển.
 
Đẩy mạnh nghiên cứu về dân số và phát triển, nhất là các vấn đề mới, trọng tâm về cơ cấu, chất lượng, phân bố dân số và lồng ghép yếu tố dân số vào kế hoạch phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực. Tăng cường hợp tác giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, phát triển mạng lưới nghiên cứu về dân số và phát triển.
 
Nghị quyết cũng yêu cầu cần đảm bảo nguồn lực cho công tác dân số. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân số theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả. Chủ động, tích cực hội nhập, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dân số. Tích cực tham gia các tổ chức, diễn đàn đa phương, song phương về dân số và phát triển. Tranh thủ sự đồng thuận, hỗ trợ về tài chính, tri thức, kinh nghiệm và kỹ thuật của các nước, các tổ chức quốc tế. Tập trung nguồn lực để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc về dân số.
 
Hạnh Ngân

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Theo bạn, giao diện Cổng thông tin điện tử của Sở Y tế Hà Nội?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập31
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm29
  • Hôm nay3,750
  • Tháng hiện tại64,876
  • Tổng lượt truy cập1,951,086
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây