Giảm gánh nặng từ dị tật bẩm sinh

Thứ bảy - 01/09/2018 04:43
Ngày 27/8, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) đã tổ chức hội thảo cung cấp thông tin về tầm quan trọng, lợi ích của tầm soát, chẩn đoán, điều trị sớm bệnh, tật trước sinh và sơ sinh.
Phát biểu tại hội thảo, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số - KHHGĐ (Bộ Y tế) Lê Cảnh Nhạc cho biết, trong những năm qua, ngành dân số tập trung nâng cao sức khỏe, thể chất nhân dân, xác định nâng cao chất lượng dân số là nhiệm vụ quan trọng. Chất lượng dân số mặc dù được cải thiện nhưng nhìn chung còn thấp, đặc biệt thể lực của người Việt Nam còn thấp kém so với các nước trong khu vực. Tỷ lệ trẻ thừa cân, rối loạn tâm lý, tự kỷ, tiểu đường có xu hướng gia tăng, đặc biệt về sức khỏe sinh sản, tai biến sản khoa.
 
Thống kê của ngành y tế cho thấy, với tỷ lệ trẻ bị dị tật bẩm sinh chiếm tỷ lệ 1/33 trẻ mới sinh, mỗi năm nước ta có khoảng hơn 41.000 trẻ bị dị tật bẩm sinh, tương đương cứ 13 phút có một trẻ mắc dị tật bẩm sinh được sinh ra. Trong đó có khoảng 1.400 - 1.800 trẻ bị mắc bệnh down, khoảng 1.000 - 1.500 trẻ bị dị tật ống thần kinh, 300 - 400 trẻ bị suy giáp bẩm sinh, đặc biệt có khoảng 15.000 - 30.000 trẻ bị thiếu men G6PD, có khoảng 2.200 trẻ bị bệnh tan máu bẩm sinh… Trong số trẻ mắc dị tật bẩm sinh, có 50% hoàn toàn không biết nguyên nhân, 50% còn lại có thể chẩn đoán là do di truyền (đột biến nhiễm sắc thể, gen hôn nhân cận huyết, đặc thù chủng tộc), nhiễm trùng (rubella, thủy đậu), yếu tố môi trường (thuốc lá, rượu, thuốc bảo vệ thực vật, dược phẩm), kinh tế - xã hội và nhân khẩu học (thu nhập thấp, tuổi mẹ cao), dinh dưỡng của thai phụ (thiếu axit folic, lạm dụng vitamin A).
 
Gánh nặng trẻ em mắc dị tật bẩm sinh khá nhiều là nỗi trăn trở của ngành y tế và ảnh hưởng đến chất lượng dân số. Vì vậy, cần đẩy mạnh triển khai các biện pháp sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh để phát hiện, can thiệp và điều trị các bệnh rối loạn chuyển hóa di truyền ngay trong giai đoạn bào thai và sơ sinh. Vụ trưởng Vụ Cơ cấu và chất lượng dân số, Tổng cục Dân số - KHHGĐ Nguyễn Xuân Trường cho biết, để giảm số trẻ em mắc dị tật bẩm sinh trước và sau khi sinh, chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030 đã được thông qua nhằm tập trung nâng cao chất lượng dân số thông qua việc triển khai các hoạt động, mô hình tư vấn và kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân, sàng lọc trước sinh và sơ sinh. Mục tiêu của chiến lược nhằm nâng cao sức khỏe, giảm bệnh, tật và tử vong ở trẻ em, thu hẹp đáng kể sự khác biệt và các chỉ báo sức khỏe trẻ em giữa các vùng miền. 
 
Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của hội nghị Trung ương 6, khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới cũng nêu rõ định hướng đến năm 2030 có 70 phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất; 90% trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất.
 
Nhờ sự tiến bộ của khoa học, nhiều dị tật bẩm sinh có thể được phát hiện sớm và can thiệp kịp thời bằng kỹ thuật sàng lọc trước sinh và sơ sinh, đem lại cho trẻ một cuộc sống khỏe mạnh, bình thường. Trong quá trình thăm khám, các chuyên gia cho rằng, nếu chẩn đoán sai, không phát hiện ra dị tật hay bệnh ở thai nhi sẽ để lại nhiều hệ lụy. Vì vậy, người dân khi xét nghiệm sàng lọc phải đến các cơ sở uy tín, chất lượng. Mỗi thai phụ đều được khuyến khích sàng lọc trước sinh ngay từ 3 tháng đầu mang thai để giúp phát hiện sớm các bất thường ở thai nhi. Ba thời điểm quan trọng để kiểm tra thai kỳ gồm: siêu âm tuần thứ 11 - 14 của thai kỳ giúp đo độ mờ da gáy để tầm soát hội chứng down và một số bệnh lý khác; tuần thứ 20-22 của thai kỳ để khảo sát hình thái học thai nhi, giúp phát hiện hầu hết những dị tật của thai về hình thái, cấu trúc như dị tật ở đầu, mặt, chân, tay và các bộ phận khác; tuần thứ 32 của thai kỳ để đánh giá sự tăng trưởng của thai, phát hiện các trường hợp thai chậm tăng trưởng trong tử cung. Ngoài 3 thời điểm này, bác sĩ có thể chỉ định thêm những lần khác tùy theo tình hình của từng bà mẹ. Cùng với siêu âm là xét nghiệm máu người mẹ, thông qua việc kiểm tra các chất do bào thai tiết ra trong máu mẹ, có thể biết được thai phụ có nguy cơ sinh con mắc bệnh lý di truyền ở mức độ cao hay thấp và xét nghiệm di truyền được thực hiện vào 3 tháng đầu và giữa của thai kỳ.
 
Tuy nhiên, không phải tất cả bệnh lý của thai nhi đều được phát hiện từ trong bụng mẹ. Chính vì vậy, phải có sàng lọc sơ sinh, tức là lấy máu ở gót chân trẻ mới sinh ra trong vòng 36 đến 48 giờ để xét nghiệm. Việc sàng lọc này có thể phát hiện được 3 bệnh là suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD và tăng sản thượng thận bẩm sinh, trong đó thiếu men G6PD là nhiều nhất. Trẻ bị bệnh này thường bị vàng da, có thể có nhiều biến chứng nguy hiểm trong giai đoạn sơ sinh, tuy nhiên có thể phòng ngừa nếu được phát hiện sớm.
 
Nhã Khanh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Theo bạn, giao diện Cổng thông tin điện tử của Sở Y tế Hà Nội?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập31
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm30
  • Hôm nay9,869
  • Tháng hiện tại102,003
  • Tổng lượt truy cập4,650,672
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây