Phụ nữ và trẻ em gái là đối tượng dễ bị tổn thương trong câu chuyện về bất bình đẳng giới

Thứ năm - 29/11/2018 10:16
Theo định nghĩa Liên Hợp Quốc, bình đẳng giới nghĩa là phụ nữ và nam giới được hưởng những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ quyền con người. Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình là vợ chồng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong các hoạt động của gia đình, có ý thức trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ một cách công bằng như quyền quyết định số con, khoảng cách sinh, việc chăm sóc và nuôi dạy con cái…
Quyền được bảo vệ của trẻ em khỏi các hình thức phân biệt đối xử đã được ghi nhận trong Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em. Điều 16, Hiến pháp Việt Nam 2013 và Bộ luật Dân sự (sửa đổi) năm 2015 cũng cho thấy rõ rằng bình đẳng và không phân biệt đối xử là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng của pháp luật Việt Nam. Luật Trẻ em năm 2016  khoản 8, điều 6 nghiêm cấm hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em vì đặc điểm cá nhân, hoàn cảnh gia đình, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn giáo của trẻ em. 
 
Linh26 10IMG 104651
Thực hiện bình đẳng giới đảm bảo quyền được học tập của trẻ em gái. (Hình minh họa)
 
Tuy nhiên, hiện nay, bất bình đẳng giới vẫn đang diễn ra từ gia đình đến cộng đồng và được coi là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Và thực tế đến bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới và người dân nhận thức được rằng, đẻ con gái cũng tốt như đẻ con trai, lúc ấy có lẽ tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh mới được giải quyết.
 
Là người đã có nhiều năm nghiên cứu về vấn đề bình đẳng giới, TS Khuất Thu Hồng - Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội chia sẻ, Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc coi việc lựa chọn giới tính thai nhi khi sinh là một trong những dạng bạo lực giới rất nghiêm trọng. Tuy nhiên, trên thực tế, rất nhiều cặp vợ chồng vẫn tìm mọi cách để đẻ con trai cho bằng được và vấn đề nạo phá thai để lựa chọn giới tính thai nhi vẫn đang tiếp tục xảy ra. Bằng chứng cụ thể, đến hết năm 2017, tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam vẫn ở mức 112,2 trẻ trai/100 trẻ gái, điều này dẫn đến rất nhiều hệ lụy đáng tiếc về sau.
 
Hiện tại, dù Chính phủ, các cơ quan, ban ngành đã có những chương trình, dự án, hoạt động truyền thông để thay đổi nhận thức của người dân cũng như việc cấm và sẽ xử phạt hành chính đối với các cá nhân, tổ chức thông báo giới tính của thai nhi trong quá trình khám thai, tuy nhiên, thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn đang có xu hướng gia tăng. TS Khuất Thu Hồng cho rằng, chúng ta vẫn còn rất nhiều vướng mắc trong việc giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, vướng trong nhận thức, quan niệm của người dân và cả trong luật pháp quy định về vấn đề này. Bên cạnh đó, luật pháp, chính sách an sinh xã hội của nước ta vẫn còn dựa rất nhiều trên những thực hành truyền thống như bố mẹ già phải sống với con trai cả. Mặt khác, những hỗ trợ cho người già vẫn còn hạn chế, dẫn đến việc họ phải sống phụ thuộc vào con trai. Một vấn đề nữa, việc xử phạt những cá nhân, đơn vị tiết lộ giới tính thai nhi cũng còn nan giải, bởi lẽ, họ có rất nhiều cách lách luật để thông báo ngầm về giới tính thai nhi mà cơ quan chức năng rất khó có thể kiểm tra và xử phạt.
 
Theo TS Khuất Thu Hồng, mỗi cá nhân chưa ý thức được rằng, hành động lựa chọn giới tính thai nhi của mình sẽ tạo nên những hiểm họa cho cả quốc gia, dân tộc lớn như thế nào. Chính điều này khiến câu chuyện về vài triệu đàn ông không có khả năng tìm bạn đời, rồi câu chuyện về bạo lực tình dục, mại dâm sẽ trở nên ngày càng khó đối phó hơn trong một xã hội thừa ra một lượng nam giới trong độ tuổi sinh đẻ lớn đến như vậy.
 
Để nâng cao vị thế của phụ nữ và trẻ em gái, TS Khuất Thu Hồng cho rằng, các cơ quan, tổ chức, ban ngành cần quyết liệt hơn nữa trong việc thay đổi nhận thức của người dân, làm cho họ hiểu con gái cũng có thể thờ cúng tổ tiên, nối dõi tông đường. Bên cạnh đó, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào các hoạt động của xã hội nhiều hơn để các gia đình thấy được đẻ con gái cũng vẻ vang, tuyệt vời như đẻ con trai, thậm chí còn hơn đẻ con trai. Ngoài ra, cần xây dựng các chương trình truyền thông, khung pháp lý thực sự đi sâu vào cuộc sống của người dân. Điều này đòi hỏi một sự thay đổi khá toàn diện chứ không phải là thay đổi một lĩnh vực. Đây không phải là chuyện của cá nhân mà của cả cộng đồng.
 
Một nghiên cứu mới đây Bộ Y tế và Trung tâm sáng kiến sức khỏe - dân số cho thấy, áp lực phải sinh con trai là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra trầm cảm sau sinh ở phụ nữ. Trung bình cứ 4 phụ nữ sau sinh thì có 1 phụ nữ trầm cảm. Nhưng tình trạng trầm cảm càng trầm trọng hơn (gấp 2 lần) ở lần mang thai thứ 2 trong trường hợp gia đình đã có con gái trước đó. Phụ nữ sinh con gái một bề có nguy cơ bị chồng bạo hành trong quá trình mang thai (bao gồm cả bạo hành thể xác, bạo hành tinh thần) gấp 2 lần so với phụ nữ có con trai. Không chỉ gây hậu quả về tinh thần, trầm cảm, hay ảnh hưởng sức khỏe mà trong những trường hợp nghiêm trọng, bạo hành gia đình hay áp lực phải sinh bằng được con trai có thể dẫn đến suy nghĩ và hành vi tự tử ở người mẹ hoặc gây tổn hại cho con.
 
Lam Dương

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Theo bạn, giao diện Cổng thông tin điện tử của Sở Y tế Hà Nội?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập35
  • Hôm nay6,462
  • Tháng hiện tại166,563
  • Tổng lượt truy cập4,715,232
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây