Vi chất dinh dưỡng và sức khỏe

Thứ năm - 16/05/2019 16:30
Vi chất dinh dưỡng là những chất mà cơ thể cần với số lượng rất nhỏ nhưng nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khỏe con người, khi thiếu vi chất dinh dưỡng nào, chúng ta sẽ bị mắc các bệnh đặc thù của vi chất dinh dưỡng đó.
 
Mặc dù rất quan trọng đối với sức khỏe, nhưng khi thiếu vi chất dinh dưỡng ở giai đoạn đầu thì hầu như người bị thiếu không có biểu hiện gì, khi đã có biểu hiện rõ ràng ra bên ngoài thì lúc đó là lúc cơ thể đã bị ảnh hưởng bởi những tổn thương thực thể có thể không thể điều trị khỏi hoàn toàn.
 
Có khoảng 90 các vi chất dinh dưỡng khác nhau cần thiết cho cơ thể, bao gồm các vitamin tan trong nước như nhóm B, C; các vitamin tan trong chất béo như: A, D, E, K và các chất khoáng sắt, kẽm, i-ốt, đồng, mangan, magiê... nhưng quan trọng nhất và thường hay bị thiếu nhất là vitamin A, sắt, i-ốt.
 
Thực phẩm nguồn vi chất DD tự nhiên
 Vi chất dinh dưỡng từ nguồn thực phẩm tự nhiên (minh họa)

Vitamin A
Vitamin A là một vi chất dinh dưỡng quan trọng, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ. Vitamin A cần cho sự tăng trưởng, giúp sáng mắt, tăng cường hệ thống miễn dịch giúp phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng.
 
Khi thiếu vitamin A sẽ gây quáng gà, khô mắt, loét giác mạc gây mù lòa, chậm tăng trưởng, dễ bị các bệnh nhiễm trùng như: sởi, viêm đường hô hấp, tiêu chảy, nhiễm trùng da. Người bị thiếu vitamin A khi mắc bệnh khác, thời gian bị bệnh sẽ kéo dài hơn, bệnh có nguy cơ nặng hơn.
 
Nguyên nhân thiếu vitamin A là do chế độ ăn nghèo vitamin A và caroten (caroten là chất khi vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành vitamin A). Hoặc bữa ăn đủ vitamin A nhưng lại thiếu đạm và dầu mỡ cũng làm giảm khả năng hấp thu và chuyển hóa vitamin A. Ngoài ra thiếu vitamin A còn thường gặp ở trẻ nhỏ không được bú sữa mẹ, trẻ suy dinh dưỡng, trẻ bị nhiễm trùng đặc biệt là trẻ bị sởi, viêm đường hô hấp, tiêu chảy, nhiễm giun...
 
Để phòng thiếu vitamin A, cần chú ý ăn uống đầy đủ các thức ăn giàu vitamin A, caroten, đạm, dầu mỡ. Vitamin A và caroten có nhiều trong các thực phẩm như:  gan, trứng, sữa, cá, rau lá xanh thẫm, các loại quả có màu vàng, da cam.
 
Bổ sung vitamin A liều cao dự phòng cho: trẻ dưới 6 tháng tuổi không được bú mẹ; bà mẹ trong vòng 1 tháng sau sinh; trẻ dưới 5 tuổi mắc các bệnh tiêu chảy, nhiễm trùng, suy dinh dưỡng; trẻ 6-36 tháng tuổi theo hướng dẫn của cán bộ y tế.
 
Khuyến khích các bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ ít nhất đến 24 tháng tuổi; thực hiện tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch cho trẻ theo hướng dẫn của cán bộ y tế.
 
Sắt
 
Sắt là một vi chất dinh dưỡng quan trọng tham gia vào quá trình tạo máu và một phần cấu trúc của bộ não, cho nên khi bị thiếu sắt sẽ dẫn đến thiếu máu do thiếu sắt làm giảm phát triển thể chất, trí tuệ, giảm sức đề kháng của cơ thể đối với nhiễm trùng và giảm khả năng hoạt động thể lực.
 
Trẻ em và phụ nữ có thai rất dễ bị thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt. Đối với trẻ thiếu máu do thiếu sắt làm giảm khả năng học tập, phát triển trí tuệ; đối với phụ nữ có thai thiếu máu do thiếu sắt làm tăng nguy cơ đẻ non, tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của mẹ và con khi sinh nở.
 
Nguyên nhân của thiếu sắt thường gặp nhất là do lượng sắt từ ăn uống không đủ. Ngoài ra thiếu sắt còn do: nhiễm giun sán, sốt rét, mất máu, bệnh lý về huyết sắc tố hay do thiếu dinh dưỡng.
 
Để phòng thiếu sắt cần cải thiện chế độ ăn: ăn các loại thức ăn giàu sắt có nguồn gốc động vật và nguồn gốc thực vật. Các loại thịt có màu đỏ thường chứa nhiều sắt (thịt bò, tim, gan lợn, tiết lợn...). Các loại rau có màu xanh sẫm, các loại đậu, đỗ, mộc nhĩ, nấm hương thường có nhiều sắt. Sắt có nguồn gốc thực vật thường khó hấp thu hơn sắt có nguồn gốc động vật nhưng một số loại rau quả có nhiều vitamin C lại có tác dụng hỗ trợ hấp thu sắt tốt hơn.
 
Phụ nữ có thai do nhu cầu sắt tăng nên ngoài ăn uống tốt, nên bổ sung viên sắt mỗi ngày trong suốt thời gian mang thai cho tới sau khi sinh 1 tháng.
 
Phòng chống nhiễm khuẩn, nhiễm giun, nhất là giun móc để phòng chống thiếu sắt.

I-ốt

I-ốt là vi chất dinh dưỡng rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể và sự tổng hợp hoóc môn tuyến giáp để duy trì thân nhiệt, phát triển xương, quá trình phát triển của não và hệ thần kinh trong thời kỳ bào thai. Thiếu i-ốt sẽ dẫn đến thiếu hoóc môn tuyến giáp và gây ra nhiều rối loạn khác nhau.
 
Thiếu i-ốt ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai có thể gây sảy thai tự nhiên, thai chết lưu, đẻ non. Khi mẹ thiếu i-ốt nặng trẻ sinh ra có thể bị đần độn vì tổn thương não vĩnh viễn. Trẻ sơ sinh có thể bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt tay hoặc chân, nói ngọng, câm, điếc, lác mắt. Các hậu quả đó sẽ tồn tại vĩnh viễn cả đời mà hiện y học chưa chữa được.
 
Thiếu i-ốt trong thời kỳ niên thiếu gây ra bướu cổ, chậm phát triển trí tuệ, chậm lớn, nói ngọng, nghễnh ngãng. Nếu nặng, trẻ có thể bị đần độn, liệt cứng hai chân. Trẻ thiếu i-ốt học sẽ kém.
 
Thiếu i-ốt ở người lớn gây bướu cổ với các biến chứng như mệt mỏi, không linh hoạt và giảm khả năng lao động.
 
Thiếu i-ốt hoàn toàn có thể phòng tránh bằng cách bổ sung một lượng i-ốt vào bữa ăn hàng ngày qua muối, bột canh, thực phẩm...Những thức ăn từ biển thường chứa nhiều i-ốt.
 
Phòng tránh thiếu các vi chất dinh dưỡng, ngoài phòng thiếu vitamin A, sắt, i-ốt chúng ta cũng cần chú ý phòng tránh thiếu các vi chất dinh dưỡng khác bằng cách:  đa dạng hóa bữa ăn, sử dụng nhiều loại thực phẩm giàu vi chất dinh dưỡng trong bữa ăn hàng ngày; sử dụng các loại thực phẩm có bổ sung vi chất dinh dưỡng; uống bổ sung vi chất dinh dưỡng giúp cải thiện ngay tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng theo hướng dẫn của cán bộ y tế.
 
  Nguyễn Thị Thanh Thủy
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập57
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm55
  • Hôm nay10,223
  • Tháng hiện tại196,338
  • Tổng lượt truy cập6,325,236
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây