Bệnh sốt mò

Thứ năm - 03/10/2019 20:27
Sốt mò là một bệnh truyền nhiễm cấp tính lưu hành ở Việt Nam. Bệnh có thể gặp quanh năm, cao điểm là các tháng xuân - hè - thu, là thời gian phát triển mạnh của mò. Bệnh có biểu hiện đa dạng, bao gồm sốt, vết loét ngoài da, phát ban, sưng hạch, tổn thương nhiều cơ quan và phủ tạng, bệnh có thể dẫn tới tử vong nếu không được điều trị thích hợp và kịp thời.
4545
Loài mò Leptotrombidium. (Hình minh họa)
 
Nguyên nhân gây bệnh
 
Tác nhân gây bệnh sốt mò là Orientia tsutsugamushi, một loại vi khuẩn Gram (-) thuộc họ Rickettsiacea.
 
Nguồn bệnh là các động vật hoang dã: như loài gậm nhấm (chủ yếu là chuột), thỏ, lợn, các loài chim, hoặc gia súc (chó, lợn, gà)...
 
Trung gian truyền bệnh là loài mò Leptotrombidium. Mò nhiễm Orientia truyền vi khuẩn cho đời sau qua trứng và qua các giai đoạn phát triển, ấu trùng mò bị nhiễm Orientia khi hút máu vật chủ có mang mầm bệnh; sau đó ấu trùng mò phát triển thành mò trưởng thành và đẻ trứng. Trứng nở thành ấu trùng đã mang sẵn mầm bệnh và sẵn sàng hút máu (mò có thể truyền mầm bệnh qua trứng đến đời thứ 3). Những con ấu trùng đời sau này sẽ làm lây nhiễm cho các con vật khác và người khi đốt và hút máu. Như vậy mò vừa là vật chủ, vừa là trung gian truyền bệnh.
 
Orientia gây bệnh chủ yếu ở chuột và các động vật gặm nhấm khác. Sốt mò lưu hành ở những nơi có cây cỏ thấp, là sinh cảnh tự nhiên của quần thể mò - chuột, thường là vùng nông thôn. Người nhiễm sốt mò khi đi vào vùng lưu hành tự nhiên của bệnh và bị ấu trùng mò nhiễm Orientia đốt. Bệnh thường xuất hiện lẻ tẻ, có thể gặp quanh năm, cao điểm là các tháng xuân - hè - thu, là thời gian phát triển mạnh của mò.
 
Triệu chứng lâm sàng
 
Thời ủ bệnh: trung bình từ 8 đến 12 ngày, sớm là 6 ngày, dài là 21 ngày.
 
Thời kỳ khởi phát: tại nơi mò đốt nổi lên nốt phổng nước, thời gian này chỉ trong vòng một ngày tính từ khi mò đốt. Song bệnh nhân không hề biết vì không thấy đau, dát hay ngứa, bệnh nhân chỉ đi điều trị khi bị sốt cao và bệnh đã vào giai đoạn toàn phát. Nốt phổng này sau đó sẽ thành vết loét.
 
Thời kỳ toàn phát:
 
  • Hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc thường nặng nề và là những triệu chứng sớm của bệnh với các biểu hiện:
  • Sốt nhẹ 1 đến 2 ngày đầu, sau sốt cao liên tục, cũng có nhiều trường hợp đột ngột sốt cao ngay 39 - 40°C trong ngày đầu giống như sốt rét.
  • Sốt cao liên tục dai dẳng xung quanh 40°C hình cao nguyên hoặc kiểu nối cơn kéo dài từ 15 đến 20 ngày.
  • Tình trạng nhiễm độc thần kinh thường nặng nề, nhức đầu là dấu hiệu khởi đầu, đau khắp đầu, có thể nhức cả 2 hố mắt.
  • Mệt mỏi, khó chịu, hoa mắt, chóng mặt, đi lại lảo đảo, ù tai, có cơn vã mồ hôi, đau cơ nhiều như trong bệnh leptospirosis, có những trường hợp cũng li bì thờ thẫn, u ám như trong bệnh thương hàn.
  • Hội chứng vết loét - hạch - ban:
  • Loét: vết loét gặp ở nhiều nơi khắp cơ thể, thông thường ở chỗ da non và ẩm, hay gặp là ở bộ phận sinh dục, nách, bẹn rồi đến hậu môn, háng, thắt lưng sau mới tới chân tay, lưng, ngực, bụng, cổ, đôi khi vết loét ở vị trí khá bất ngờ như vành tai, rốn, mi mắt. Vết loét thường hình tròn hoặc bầu dục, đường kính nhỏ là 1mm, tới lớn là 2 cm. Nếu có vẩy thì vẩy đen, cứng phủ trên một nốt sẩn có gờ cứng. Nếu vẩy đã bong thì để lại vết loét lõm, màu đỏ tươi, sạch không tiết dịch, không có mủ. Bệnh nhân không hề biết có vết loét vì hoàn toàn không đau, không ngứa, không tức, rát. Vào tuần thứ 3 thì vết loét liền, da trở lại bình thường.
  • Hạch to: có 2 loại hạch to, viêm hạch khu vực nguyên phát và viêm hạch toàn thân thứ phát.
  • Ban: xuất hiện ở cuối tuần một và đầu tuần 2 của bệnh. Thường là ban dát sẩn, kích thước từ hạt kê đến 1 cm, mọc khắp toàn thân (lưng, ngực, bụng, tứ chi) trừ lòng bàn tay, lòng bàn chân, khoảng 10% có ban xuất huyết. Ban tồn tại từ vài giờ tới một tuần.
  • Hội chứng về tim, mạch: rất hay gặp các tổn thương tim mạch trong bệnh sốt mò như:
  • Dãn mạch làm da thường hồng hào, xung huyết kết mạc mắt với nhiều tia máu đỏ (đây là triệu chứng để phân biệt với sốt rét và thương hàn). Đôi khi có những trường hợp xuất huyết dưới da, chảy máu cam, xuất huyết đường tiêu hoá, ho ra máu...
  • Hay có biểu hiện của viêm cơ tim: giờ tim mờ, ngoại tâm thu, huyết áp giảm.
  • Các triệu chứng về hô hấp: có thể gặp viêm phổi không điển hình hoặc viêm phế quản.
  • Triệu chứng ở các cơ quan khác:
  • Về tiêu hoá: thường phân táo trong các ngày sốt, đôi khi có thể ỉa lỏng vài ngày, đau vùng thượng vị giống như viêm dạ dày nhưng các triệu chứng này thường hết khi khỏi bệnh. Gan và lách có thể to nhưng thường chỉ lấp ló bờ sườn, ít đau.
  • Tiết niệu: có thể có protein trong nước tiểu, đôi khi có cả trụ hình nhưng chỉ thoáng qua.
 
Phòng bệnh
 
Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh sốt mò.
 
Biện pháp phòng bệnh chủ yếu vẫn là tránh mò đốt.
 
Tại nơi dịch lưu hành để phòng tránh bệnh sốt mò, người dân cần giữ gìn vệ sinh nơi ở, phát quang bụi rậm quanh nhà, định kỳ phun thuốc tồn lưu diệt côn trùng 6 tháng/lần.
 
Diệt chuột, bẫy chuột.
 
Khi đi làm rẫy, phát nương hay vào rừng núi hoặc vùng cây cối rậm rạp cần mặc quần áo dài tay có dây chun buộc chặt ở ống quần, mang giầy, đội mũ, bôi thuốc chống côn trùng đốt lên các vùng da hở, tránh ngồi, nằm, phơi quần áo, đặt balô trên bãi cỏ, gần bờ bụi, gốc cây. Khi đi về nên thay đồ ngay và tắm rửa sạch sẽ.
 
Bệnh sốt mò khó chẩn đoán, triệu chứng dễ nhầm với các bệnh khác nên khi có các triệu chứng như trên của bệnh cần đến ngay các cơ sở y tế để được theo dõi, tư vấn điều trị, không tự ý mua thuốc điều trị hoặc điều trị không đúng làm bệnh nguy hiểm hơn, hạn chế tiếp xúc với động vật, vệ sinh thường xuyên khu vực sinh sống, nơi ở của các loại gia súc, gia cầm.
 
Đỗ Hương

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây