Các loại bệnh nấm da thường gặp

Thứ sáu - 04/10/2019 15:52
Nước ta ở vùng nhiệt đới (nóng ẩm) thích hợp cho các bệnh nấm da phát triển. Thường gặp nhất là nấm hắc lào, nấm lang ben, nấm kẽ, nấm tó, nấm móng, nấm tóc.... Nấm là một loại sinh vật hạ đẳng không có chất diệp lục nên không tổng hợp được chất hữu cơ mà phải sống bằng cách ký sinh vào vật chủ: thực vật, động vật (chó, mèo, trâu bò...) và người.
Nguyên nhân
 
Bệnh nấm da xuất hiện do sự tấn công của một loại nấm lên tế bào thượng bì của da và thường lây truyền qua các con đường như:
 
Từ người sang người: qua tiếp xúc, dùng chung đồ vật với người bị bệnh.
 
Từ động vật sang người: tiếp xúc với con vật có nhiễm nấm thì cũng có thể gây ra các biểu hiện bệnh.
 
Từ đồ vật sang người: tiếp xúc với quần áo, ga trải giường,… có nhiễm nấm cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
 
Ngoài ra còn có các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh như: môi trường ẩm ướt, hệ miễn dịch yếu.
 
Các bệnh nấm da thường gặp
 
Nấm hắc lào
 
1 hac lao
Hắc lào. (hình minh họa)
 
Hắc lào là bệnh da liễu bị gây nên bởi trychophytone hay microsporum, epidermophyton... Bệnh thường xuất hiện ở các vùng kín, nếp gấp kẽ lớn như kẽ bẹn 2 bên, nếp lằn mông, vùng quanh thắt lưng.

Triệu chứng thường gặp phổ biến là hiện tượng ngứa da nhất là khi ra mồ hôi, đôi khi kèm theo tróc vảy, bong tróc ở trên bề mặt da.

Tổn thương ban đầu dưới dạng các đám nhỏ trò như hình đồng xu, hoặc hình bầu dục, ranh giới rõ sau đó lan dần các đám liên kết với nhau tạo thành mảng lớn hình đa cung nổi nhẹ trên bề mặt da.
 
Màu sắc: đỏ hoặc nâu, thường gây bong tróc vảy có cạnh sắc cứng và ngứa ngay tại vị trí tổn thương. Một số trường hợp có thể kèm theo các mụn nước nhỏ phồng rộp hoặc các mụn mủ vàng do bị bội nhiễm bởi cào, gãi gây xước da tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập.
 
Nấm da hắc lào có khả năng lây lan sang cho người khác qua tiếp xúc hoặc do dùng chung đồ với người bị bệnh trong giai đoạn các tổn thương đang có mẩn đỏ và bong tróc vảy da.
 
Nấm da hắc lào thường phát triển ở chân hoặc thân mình với các tổn thương đa dạng về hình thái và vị trí. Nấm da hắc lào là tổn thương lành tính của da tuy nhiên dễ bị tái phát nên phải có phương pháp điều trị đúng cách.
 
Điều trị tại chỗ: Dùng thuốc bôi tại chỗ, dung dịch bôi ASA, BSI, mỡ Benzosali, kem Nizoral...
 
Các thuốc bôi dạng kem có tác dụng làm dịu da, giảm ngứa, tăng khả năng phục hồi các tổn thương da.
 
Điều trị toàn thân: Điều trị nguyên nhân dùng thuốc kháng nấm Itraconazole, nizoral...

Điều trị triệu chứng: Ngứa: cho dùng thuốc kháng histamine; nếu có mủ hay bội nhiễm sử dụng kết hợp kháng sinh.
 
Nấm kẽ chân
 
2 Nam ke chan
Nấm kẽ chân. (hình minh họa)
 
Nấm kẽ chân còn gọi là nước ăn chân. Căn nguyên của bệnh là do vi nấm Epidermophyton, nấm trichophyton hay còn do nấm Candida albicans gây ra. Bệnh thường gặp ở những người làm việc môi trường ẩm ướt, thường xuyên đi giày, ra mồ hôi chân. Nấm kẽ thường có 3 thể: thể tróc vảy khô, thể mụn nước và thể viêm kẽ.
 
Vị trí: kẽ ngón chân, đặc biệt kẽ ngon 3-4 sít nhau.
 
Tổn thương cơ bản: Ban đầu bợt trắng, hơi bong vảy, chợt nông, nổi mụn nước, có khi viêm tẩy do nhiễm khuẩn thứ phát, về sau lan lên mu bàn chân, xuống mặt dưới bàn chân, kẽ các ngón khác.
 
Nếu do loài nấm Trichophyton tổn thương đỏ, róc vảy da ở rìa bàn chân, gót chân, kẽ chân và có mụn nước ở đám tổn thương.
 
Triệu chứng cơ năng: ngứa. Cần phân biệt với: bệnh tổ đỉa, Eczema tiếp xúc.
 
Điều trị: Uống và bôi thuốc kháng sinh chống nấm Ketoconazol, Nizoral, Sporal,...

-  Bôi dung dịch: castellanin, BSI…
 
Dự phòng: Giữ gìn các kẽ chân luôn khô ráo. Bôi, rắc thuốc bột diệt nấm vào dày, tất, vào kẽ chân, nhất là những người phải đi dày, ra mồ hôi chân….
 
Nấm lang ben
 
Bệnh do nấm men Pityrosporum Ovale, một loài ưa môi trường chất dầu, mỡ, thường trú cổ nang lông tuyến bã, khi gặp điều kiện thuận lợi thì gây bệnh.
 
Bệnh hay gặp ở người trẻ, thanh thiếu niên, người da dầu, da mỡ. Thường bị về mùa hè, những người thường lạm dụng xà phòng, mặc áo chật, bề mặt da ẩm…
 
Vị trí thường gặp ở ½ thân người trên (cổ, ngực bụng, lưng, cánh tay).
 
Tổn thương cơ bản ban đầu là các chấm, vết, dát hình tròn đường kính 1-2 mm, trông giống bèo tấm, ăn khớp lỗ chân lông, thường có màu trắng, hồng (nhất khi ra mồ hôi), đôi khi có màu nâu. Các tổn thương liên kết với nhau thành các đám có hình vằn vèo, hình bản đồ giới hạn rõ, bề mặt có vảy nhỏ (vảy cám).
 
Triệu chứng cơ năng: ngứa râm ran, nhất là khi nóng, ra mồ hôi…
 
Tiến triển: Bệnh dễ tái phát.
 
Điều trị: Uống và bôi thuốc kháng sinh chống nấm. Uống Ketoconazol, Itraconazol, Sporal…; bôi: dung dịch ASA, BSI, mỡ Benzosali, kem Nizoral…; tắm: xà phòng SASTID…
 
Dự phòng: Chú ý vệ sinh bề mặt da không lạm dụng xà phòng,mặc áo bằng vải sợi dễ hút mồ hôi
 
Nấm móng

Bệnh nhiễm trùng nấm móng, nấm lây nhiễm xảy ra ở một hoặc nhiều móng chân, tay. Nhiễm nấm móng có thể bắt đầu như một đốm trắng hoặc vàng dưới các đầu móng tay hoặc móng chân. Nấm móng là một bệnh thường thấy ở những người thường xuyên tiếp xúc với nước. Bệnh làm móng bị hư hủy xấu xí, có khi nung mủ, đau ảnh hưởng đến năng suất làm việc. Nhiễm nấm móng có thể khó điều trị, và nhiễm trùng có thể tái diễn. Bệnh do nhiều loại vi nấm gây ra, có thể kể hai nhóm chính là: Nấm sợi tơ (Dermatophytes) và nấm hạt men (Candida).
 
Triệu chứng thường thấy của bệnh nấm móng: bề mặt móng bị xù xì, phủ một lớp vảy mịn như cám, có lằn sọc dọc hay ngang. Chỗ bị tổn thương có màu hơi vàng, hay nâu đen. Móng dễ mủn và dễ gãy. Bên dưới móng cũng có thể bị tổn thương và móng bị tróc. Ban đầu, người bệnh chỉ bị 1 hoặc 2 móng nhưng không được điều trị sau đó dần dần lan ra nhiều ngón, thời gian lan ra nhiều ngón cũng từ từ. Trên từng móng, tổn thương tấn công từ bờ vào và không bị viêm quanh móng (nếu do Dermatophytes) hoặc từ vùng chân móng đi ra và có viêm quanh móng (nếu do nấm Candida). Khi viêm vùng chân móng sẽ rất đau, sưng đỏ và có mủ, ngứa rất nhiều vùng quanh móng.
 
Có nhiều cách điều trị. Thường là dùng thuốc bôi tại chỗ và thuốc uống tác dụng toàn thân.
 
Thuốc bôi tại chỗ có thể cho bệnh nhân dùng một trong các thuốc bôi sau: kem hoặc pommade Ketoconazol (Nizoral), Canesten, Exoderil, terbinafin, BSI,…
 
Nên hướng dẫn bệnh nhân cách bôi thuốc để đạt hiệu quả và tránh những sai lầm đáng tiếc. Sau khi rửa và cạo sạch chỗ tổn thương móng, bôi thuốc lên bề mặt móng và quanh móng, mỗi ngày 2-3 lần, ban đêm nên dùng băng nhựa băng bịt giữ thuốc qua đêm.
 
Hiện nay Itraconazol là thuốc đặc hiệu nhất để điều trị bệnh nấm móng. Itraconazole là một triazole kháng nấm, thuốc rất ưa mỡ và chất sừng, tồn tại lâu trong mô như da, Itraconazole có nồng đô cao trong mô do có ái tính với Protein, đặc biệt là chất sừng, có hoạt phổ rộng kháng nhiễm nấm da, Candida và Malassezia.
 
Itraconazole thấm được vào bản móng và giường móng nhờ vậy mà có tác dụng diệt nấm sinh bệnh tại móng tay, chân. Sau khi uống Itraconazole đi vào tổ chức da, tóc, móng, thuốc không quay trở lại hệ tuần hoàn. Do vậy sự tái tạo lớp sừng, tóc, móng được phục hồi từng bước ứng với sự giảm dần của Itraconazole trong các tổ chức này.
 
Điều trị bệnh nấm móng bằng uống Itraconazole phải tuân thủ hướng dẫn của thầy thuốc, nhằm tránh nhữn hậu quả xấu có thể xảy ra. Hiện nay có rất nhiều biệt dược: sporal, spobet, trifungi,....
 
Tuyệt đối không dùng cho trẻ em dưới 12 tuổi, phụ nữ có thai và cho con bú, viêm gan cấp. Khi dùng Itraconazole cần xét nghiệm đánh giá chức năng gan trước khi điều trị và sau khi dùng mỗi đợt thuốc điều trị, nếu có viêm gan đang tiến triển thì phải điều trị viêm gan cho ổn định mới dùng thuốc điêu trị nấm móng.
 
Sau khi kết thúc điều trị cần xét nghiệm soi tươi bệnh phẩm lấy tại móng bệnh để đánh giá là đã hết nấm chưa, kết hợp với đáng giá lâm sàng xem móng đã mọc ra lại chưa, hết xù xì, hết viêm, hết ngứa chưa. Nếu cả xét nghiệm và lâm sàng chưa tốt thì bác sĩ sẽ có quyết định điều trị tiếp cho bạn.
 
Nên điều trị sớm, tuyệt đối không để bệnh nặng mới điều trị. Nếu móng tay bị nhiễm trùng nặng hoặc rất đau đớn, bác sĩ có thể đề nghị loại bỏ các móng tay. Móng tay mới thường sẽ phát triển tại chỗ của nó, mặc dù nó sẽ từ từ và có thể mất đến một năm để phát triển trở lại hoàn toàn. Đôi khi phẫu thuật sử dụng kết hợp với ciclopirox để xử lý nền móng. Ngoài ra còn có thể điều trị nấm móng tay với một laser hoặc điều trị quang động, trong đó ánh sáng cường độ cao được sử dụng, để xạ móng tay sau khi nó được xử lý bằng axit, cũng có thể thành công. Tuy nhiên, điều trị mới này có thể không có ở khắp mọi nơi.
 
Phòng ngừa tái phát: Để có thể phòng ngừa bệnh nấm móng tái phát, nếu có thể, người bệnh nên thay đổi việc làm hoặc mang bao tay khi làm việc để tránh móng bị ướt. Bên cạnh đó, nên hạn chế tiếp xúc với nước có chất tẩy rửa như xà bong, nước rửa chén. Chỉ tiếp xúc với nước khi cần thiết như tắm gội, không nên rửa tay chân thường xuyên khi không cần thiết, vì như thế tạo môi trường ẩm ướt cho nấm phát triển trở lại.
 
Mặc dù nấm móng là một bệnh tuy không nguy hiểm nhưng làm mất vệ sinh, thẩm mỹ và rất khó điều trị. Vì vậy cần phải điều trị sớm, kịp thời, đúng phương pháp tránh trường hợp bệnh nặng phải điều trị lâu dài và tốn kém. Bệnh nhân nên nhớ không tự ý sử dụng bất kỳ loại thuốc uống hoặc thuốc bôi nào khi chưa có chỉ định của thầy thuốc.
 
Nấm tóc
5 Nam toc
Nấm tóc. (hình minh họa)
 
Nấm gây bệnh ở tóc chủ yếu do hai loại nấm sợi là Trichophyton và Microsporum. Các loại nấm tóc gồm nhiều loại khác nhau và có tỷ lệ mắc khác nhau tuỳ từng vùng. Những người lao động vất vả đầu tóc luôn đẫm mồ hôi, bụi bặm mà ít được tắm gội hoặc người tiếp xúc nhiều với gia súc thường hay bị nấm tóc hơn.
 
Bệnh nấm tóc nếu không được điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và là nguồn lây nhiễm trong cộng đồng.
 
Các loại nấm nông có thể gây bệnh ở da đầu, chân tóc làm tóc bị khô, gãy hoặc xén tóc. Các hình thái bệnh Nấm tóc sau hay gặp trên thực tế.
 
Bệnh Favus
 
Căn nguyên: do Trichophyton schonleini, Trichophyton quynckeanum, Trichophyton gypseum.
 
Triệu chứng lâm sàng: trên da đầu có các đám vảy tiết nhỏ màu vàng và có mùi hôi đặc biệt (mùi chuột chù). Nếu cạy vảy sẽ để lại một hố lõm. Thương tổn khu trú ngay dưới chân tóc. Sợi tóc trong vùng thương tổn không rụng nhưng khô, mất vẻ bóng nhoáng.
Xét nghiệm thấy bào tử nấm trong lòng sợi tóc.
 
Nấm tóc gây thâm nhiễm và mưng mủ (Kerion de celse – Nấm tổ ong)
 
Căn nguyên: do Trichophyton canis, Trichophyton verrucosum, Microsporum mentagrophytes.
 
Triệu chứng lâm sàng: bệnh hay gặp ở trẻ em nông thôn có tiếp xúc với các loại gia súc, chủ yếu là mèo. Thương tổn cơ bản đầu tiên là các mụn mủ ở một số chân tóc, sau đó lan dần ra xung quanh, tạo thành một mảng lớn nổi cao, thâm nhiễm. Bề mặt thương tổn ghồ ghề, có nhiều vảy. Nếu cạy vảy thấy lỗ chỗ như tổ ong chứa nhiều mủ. Tại đám thương tổn tóc bị rụng.
 
Xét nghiệm: thấy bào tử nấm thành chuỗi bao quanh sợi tóc.
 
Bệnh nấm làm trụi tóc
 
Căn nguyên: Trichophyton violaceum, Trichophyton tonsurarans, Trichophyton sondaneuse.
 
Triệu chứng lâm sàng: bệnh có thể gặp ở cả trẻ em và người lớn. Thương tổn cơ bản là các đám bong vảy ở da đầu.Tóc trong vùng bị bệnh gãy sát da đầu, nhìn kỹ thấy các chấm đen. Có thể các mảng bong vảy liên kết tạo thành mảng lớn tóc gãy không đều. không thấy ngứa.
 
Xét nghiệm thấy các bào tử nấm xếp thành chuỗi trong lòng sợi tóc.
 
Nấm xén tóc
 
Căn nguyên do Microsporum andouini, Microsporum langeroni, Microsporum canis.
 
Triệu chứng lâm sàng: bệnh hay gặp ở trẻ em và lây truyền do dùng chung mũ, nón, lược. Thương tổn là các mảng da bong vảy ở đầu, hình tròn hay bầu dục. Tóc trong vùng đó bị xén cách da đầu khoảng 5 – 8 cm. Chân tóc còn lại được phủ một lớp trắng như “ đi bít tất”.
 
Xét nghiệm thấy các bào tử nấm bao quanh sợi tóc.
 
Điều trị bệnh nấm tóc 

Nấm tóc là bệnh có nhiều nguyên nhân nên cần được điều trị theo đơn của bác sĩ. Bệnh nhân cần hiểu rõ về bệnh tật để dùng thuốc một cách phù hợp, không tự dùng các loại thuốc kháng nấm vì có thể gây ảnh hưởng tới gan, thận.
 
Các thuốc sử dụng trong điều trị: Thuốc bôi tại chỗ: dung dịch BSI, kem nizoral, kem clotrimazol…Tuy nhiên, các thuốc bôi tại chỗ thường ít tác dụng vì nấm theo sợi tóc ăn xuống sâu.
 
Toàn thân: có thể dung một trong các loại thuốc sau đây: griseofulin, itraconazol, ketoconazol.
 
Riêng với nấm tổ ong (Kerion de celse): chích rạch mủ, bôi thuốc chống nhiễm khuẩn, phối hợp thuốc chống nấm. Có thể cho kháng sinh chống nấm đường toàn thân.
 
Phòng bệnh
 

Để phòng tránh bệnh Nấm tóc, ngoài việc vệ sinh cá nhân sạch sẽ, vệ sinh nơi ở, bạn cần chú ý tới các nguồn lây nhiễm. Một số điều cần ghi nhớ trong phòng bệnh Nấm tóc như sau:
 
Không gội quá nhiều, không dùng nước gội có độ tẩy gầu cao, không cào gãi mạnh làm xây xước da đầu.
 
Luôn giữ tóc khô, sạch. Nên xả nhiều nước sau khi gội đầu, làm khô tóc sau khi gội hay đi ngoài trời mưa. Không đội mũ quá chật và ủ quá lâu, sẽ làm cho tóc ẩm, dễ bị bệnh…
 
Tránh gội đầu quá nhiều và dùng chung khăn, lược, mũ với người khác, đặc biệt là những người tóc có nhiều gàu hoặc các biểu hiện của bệnh nấm tóc.
 
Khi thấy ngứa và nổi sẩn ở da đầu, cần kịp thời đến khám bệnh ở thầy thuốc chuyên khoa Da liễu. Việc tự ý bôi thuốc không những không có tác dụng mà còn làm bệnh trở nên nặng thêm.
 
Nếu được phát hiện và điều trị sớm, đúng phương pháp, có chế độ gội đầu hợp lý, bệnh viêm chân tóc có thể chữa khỏi.
 
Nấm tóc là bệnh lây, nên cần lưu ý để phòng tránh lây nhiễm cho các thành viên trong gia đình.
 
Làm gì khi bị bệnh nấm da?
 
Mặc dù không gây ra hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe nhưng các bệnh nấm da thường tồn tại dai dẳng, dễ tái phát, gây khó khăn trong điều trị. Mặt khác, những lần mắc bệnh nấm da sau thường sẽ nặng, kéo dài và khó dứt hơn so với lần trước đó. Vì vậy, khi gặp phải tình trạng bất thường trên da, bệnh nhân cần đến khám bác sĩ, đặc biệt là bác sĩ chuyên khoa để được chẩn đoán và làm các xét nghiệm cần thiết. Từ các kết quả đó, bác sĩ chỉ định điều trị đúng bệnh, đúng thuốc. Không nên tự mua thuốc điều trị nấm vì có thể làm bệnh nặng thêm.
.
Lâm Tân

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây