Cần nhận biết sớm các dấu hiệu bệnh viêm phổi ở trẻ nhỏ

Thứ năm - 30/11/2017 07:57
Viêm phổi là bệnh rất dễ mắc phải ở trẻ nhỏ. Do bệnh tiến triển nhanh nên cần được nhận biết sớm và xử lý kịp thời, tránh biến chứng.
Theo các bác sĩ của Bệnh viện Nhi Trung ương, tình trạng cha mẹ không đủ khả năng phát hiện sớm bệnh viêm phổi khiến trẻ nhập viện khi bệnh đã nặng là khá phổ biến. Số lượng bệnh nhi nhập viện vì viêm phổi luôn chiếm tỷ lệ cao, khoảng trên 30% các trường hợp đến khám và điều trị, phần lớn là trẻ dưới 5 tuổi. Tử vong do viêm phổi chiếm 75% trong các bệnh lý hô hấp.
 
Viêm phổi là gì?
 
Theo hướng dẫn nhận biết viêm phổi ở trẻ của Bệnh viện Nhi Trung ương, viêm phổi là tình trạng nhiễm trùng bên trong phổi, xuất hiện khi vi khuẩn hay virus kẹt trong cơ quan này, chúng sinh sôi nảy nở và tạo nên những ổ nhiễm trùng. Vi khuẩn thường gặp nhất là phế cầu khuẩn. Một số loại virus cũng gây nên bệnh này.
 
Bệnh có thể xuất hiện khi trẻ đang bị một đợt ho hoặc cảm cúm. Lúc này, dịch nhầy tiết ra trong phổi trở thành nguồn dinh dưỡng cho vi trùng. Sau vài ngày, vi khuẩn và virus có thể nhanh chóng sinh sôi, tạo nên những túi phế nang chứa mủ và chất nhầy bị nhiễm khuẩn. Ho chính là phản xạ tự vệ rất quan trọng của cơ thể, giúp đẩy chấy nhầy ra khỏi túi phế nang trước khi nhiễm trùng đặt chân được vào đây.
 
DSC 0221
Bệnh viêm phổi ở trẻ thường tiến triển nhanh và diễn biến xấu nếu như trẻ không được chẩn đoán và điều trị theo phác đồ phù hợp. 
 
Nguyên nhân gây viêm phổi
 
-  Do virus chiếm 60 - 70% các trường hợp thường gặp gồm virus hợp bào hô hấp, virus cúm và adenovirus.
 
- Vi khuẩn: Phế cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, haemophilus, tụ cầu và các vi khuẩn không điển hình.
 
Những biểu hiện chính của viêm phổi
 
- Ho vừa đến nặng, thường là ho nặng tiếng, nhưng không nhất thiết như vậy.
 
- Thở nhanh liên tục. Trẻ được coi là thở nhanh nếu thở trên 60 lần/phút (đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi), trên 50 lần/phút (trẻ từ 2 tháng  - 1 tuổi) hoặc trên 40 lần/phút (đối với trẻ trên 1 tuổi). Đếm nhịp thở khi trẻ đang nằm yên, không hoạt động gắng sức. Dùng đồng hồ có kim giây để đếm trong vòng 1 phút.
 
- Thở gắng sức, cánh mũi phập phồng, thở rên, co kéo cơ liên sườn (phần mềm giữa các xương sườn lõm vào khi trẻ hít vào), co rút hõm ức, rút lõm lồng ngực. Dấu hiệu để nhận biết rút lõm lồng ngực là khi trẻ hít vào, phần dưới lồng ngực không phình ra như thường lệ mà lõm vào, nguyên nhân là do cơ hoành phân cách ổ bụng và lồng ngực cũng tham gia vào quá trình thở.
 
Thở nhanh và thở gắng sức là phản ứng bù trừ nhưng cơ thể không thể cố gắng mãi. Nếu không điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể suy hô hấp, kiệt sức, nhịp thở chậm lại rồi ngưng thở.
 
- Sốt, có thể sốt vừa đến sốt cao.
 
- Đau ngực, không chỉ trong lúc ho, mà cả giữa các cơn ho.
 
- Nôn, không chỉ sau những cơn ho mạnh mà cả giữa các cơn ho.
 
- Tím tái quanh môi và mặt do thiếu ô xy.
 
- Thở rít, mặc dù thở rít thường là biểu hiện của nhiễm vi rút nhiều hơn nhưng đôi khi cũng xuất hiện trong viêm phổi.
 
Làm sao để biết trẻ có bị viêm phổi không?
 
- Nếu trẻ có tất cả các biểu hiện trên thì nhiều khả năng là trẻ đã bị viêm phổi.
 
- Nếu trẻ chỉ có 1 hay 2 triệu chứng thì nhiều khả năng là bé không bị viêm phổi.
 
- Quan trọng nhất là 3 dấu hiệu: ho kèm theo sốt và thở nhanh hay thở gắng sức.
 
Nếu trẻ có hầu như tất cả các triệu chứng nói trên, có thở nhanh hoặc thở gắng sức nhưng không tím ở môi hay ở mặt, bạn nên đưa trẻ đi khám ngay trong ngày. Nếu trẻ có những biểu hiện trên và tím quanh môi và ở mặt, cha mẹ phải đưa trẻ đến cơ sở y tế để cấp cứu ngay, có thể trẻ cần hỗ trợ thở ô xy.
 
Không cần đưa trẻ đi khám bác sĩ vào buổi tối nếu trẻ có một số biểu hiện nói trên nhưng không thở nhanh hay thở gắng sức và không tím tái môi, mặt, gia đình có thể đưa trẻ đi khám vào ngày hôm sau. Trong mọi tình huống, nếu có bất cứ nghi ngờ gì hãy gọi điện tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc đưa trẻ đi khám ngay.
 
DSC 0222
Cha mẹ cần đặc biệt lưu ý đến các dấu hiệu bệnh ở trẻ. 
 
Điều trị
 
Kháng sinh
 
Thường được sử dụng để điều trị các nhiễm trùng do vi khuẩn nhưng không hiệu quả với viêm phổi do virus. Chỉ bác sĩ mới có thể quyết định bệnh do vi khuẩn hay virus gây ra.
 
Hít thở hơi nước ấm và vỗ lồng ngực
 
Phương pháp này rất quan trọng. Cha mẹ thực hiện bằng cách đưa trẻ vào ngồi trong phòng tắm đã bật vòi sen với nước nóng, cho trẻ hít thở hơi nước ấm trong vòng 10 phút, khoảng 4 - 6 lần mỗi ngày. Khum bàn tay và vỗ vào lồng ngực bé, tập trung vào vùng được chẩn đoán là có viêm phổi. Vỗ nhanh trong vòng 1 phút, rồi nghỉ 1 phút, rồi tiếp tục vỗ và nghỉ như vậy trong vòng 10 phút. Động tác này giúp các ổ đờm long ra, nhờ đó trẻ có thể ho và khạc đờm ra ngoài. Khuyến khích trẻ ho trong quá trình vỗ rung.
 
Thuốc ho
 
- Ban ngày: Nếu trẻ không quá mệt mỏi vì ho thì không nên dùng các loại thuốc ức chế cơn ho. Phản xạ này giúp trẻ làm bật đờm ra ngoài. Có thể dùng thuốc long đờm nếu cần, giúp làm loãng chất nhầy kẹt lại trong phổi.
 
- Ban đêm: Nếu trẻ ho quá nhiều, có thể dùng kết hợp thuốc long đờm và thuốc ức chế cơn ho. Nếu trẻ chỉ ho vừa phải thì cố gắng không dùng thuốc chống ho.
 
Bệnh viêm phổi có lây nhiễm không?
 
Bệnh có lây nhưng không nhiều như suy nghĩ của đa số mọi người. Virus cảm cúm gây ra triệu chứng ho ban đầu có khả năng lây lan lớn nhưng ổ viêm nhiễm ở sâu dưới phối lại ít lây hơn. Khi tiếp xúc với bệnh nhân viêm phổi, người chăm sóc thường bị nhiễm virus với các biểu hiện ho và cảm cúm thông thường, nhưng ít khi tiến triển thành viêm phổi. Virus có thể lây lan qua dịch tiết ở mũi hoặc miệng, khi trẻ ho hoặc hắt hơi, hoặc dùng chung dụng cụ ăn uống với người khỏe mạnh.
 
Sự lây nhiễm của viêm phổi không phụ thuộc nhiều vào chủng loại virus hay vi khuẩn gây bệnh ở trẻ mà phụ thuộc chủ yếu vào độ nhạy cảm của mỗi người. Như vậy, nếu một ai đó trong nhà bạn bị viêm phổi, phải điều trị bằng kháng sinh, thì điều này không có nghĩa là những người còn lại trong gia đình cũng sẽ bị viêm phổi.
 
Dự phòng
 
- Nguyên nhân thường gặp nhất gây viêm phổi ở trẻ em là phế cầu khuẩn. Trong khi đó, từ năm 2000 đã có vắc xin phòng vi khuẩn này, tuy nhiên vắc xin chỉ có tác dụng với trẻ từ 2 tuổi trở lên. Phế cầu khuẩn cũng có thể gây viêm màng não, nhiễm trùng huyết và viêm tai, vì vậy vắc xin phòng bệnh do phế cầu khuẩn đã được đưa vào lịch tiêm chủng của trẻ, cha mẹ cần thực hiện cho trẻ tiêm chủng theo đúng lịch.
 
- Ngoài việc tiêm phòng cho trẻ, cha mẹ nên áp dụng các biện pháp ngăn ngừa sự lây lan của vi khuẩn và virus đường hô hấp nói chung như rửa tay trước và sau khi ăn; vệ sinh sạch sẽ, thường xuyên môi trường sống của trẻ, nhất là đồ dùng và đồ chơi của trẻ; tránh tiếp xúc gần với người bệnh; không dùng chung dụng cụ ăn uống với người bệnh…
 
Diệu Linh/ảnh sưu tầm
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập33
  • Máy chủ tìm kiếm9
  • Khách viếng thăm24
  • Hôm nay14,443
  • Tháng hiện tại140,928
  • Tổng lượt truy cập2,668,456
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây