Loét dạ dày tá tràng

Thứ ba - 26/12/2017 23:20
Bệnh loét dạ dày tá tràng là để chỉ khi có một hay nhiều ổ loét xảy ra ở dạ dày- tá tràng. Về mô bệnh học, ổ loét được định nghĩa là những tổn thương mất niêm mạc, đã phá huỷ qua cơ niêm xuống hạ niêm mạc hoặc sâu hơn.
Loét dạ dày tá tràng là bệnh mạn tính, diễn biến có chu kỳ. Loét tá tràng gặp nhiều gấp 4 lần loét dạ dày, loét tá tràng thường là lành tính.
 
Các yếu tố nguy cơ: Tiền sử gia đình có người bị loét dạ dày tá tràng; Bệnh lý: u tiết gastrin, u tuỵ (Zollinger Ellison), xơ gan, viêm niêm mạc mạn, basedow, cường vỏ thượng thận…; Hút thuốc lá, uống rượu; Sử dụng thuốc chống viêm không steroid và steroid; Stress, các căng thẳng về thần kinh, tâm lý; Rối loạn nhịp điệu và tính chất thức ăn: ăn không đúng giờ, ăn nhiều vị cay chua.
 
Có khoảng 20% bệnh nhân không có triệu chứng hoặc triệu chứng không điển hình chỉ được phát hiện khi tiến hành nội soi, chụp X quang hay khi có biến chứng.
 
Đau bụng vùng thượng vị: là triệu chứng chính của bệnh, tuỳ thuộc vào từng bệnh nhân, 1/3 số bệnh nhân có cơn đau điển hình, 2/3 có cơn đau không điển hình.
 
Đặc điểm đau do loét dạ dày tá tràng điển hình: Đau có tính chất chu kỳ; Đau lâm râm hoặc rát bỏng vùng thượng vị, đôi khi ở vùng hạ sườn phải; Đau có thể lan ra sau lưng; Cơn đau thường xuất hiện 2-3 giờ sau ăn, tăng lên khi đói và chiều tối hoặc nửa đêm gần sáng ( lúc dạ dày rỗng); Cơn đau giảm đi khi ngay sau ăn hoặc dùng các thuốc trung hoà acid. Những đợt đau lúc đầu thường mờ nhạt nên người bệnh dễ bỏ qua, về sau cơn đau xuất hiện trong vài ngày hoặc vài tuần rồi tự nhiên giảm hoặc hết đau hay sau dùng các thuốc giảm acid dạ dày.  Cũng có khi cơn đau xuất hiện sau khi dùng các thuốc CVKS, rượu, các chất kích thích như cà phê hoặc sau những đợt làm việc căng thẳng. Do đó tìm hiểu kĩ chế độ sinh hoạt của người bệnh, các thuốc đã dùng, tiền sử gia đình…cũng góp phần củng cố thêm cho chẩn đoán.
 
Cơn đau không điển hình, dễ nhầm với các bệnh lý khác: Đau tức ngực khiến dễ nhầm với các bệnh tim mạch, nhất là ở người lớn tuổi; Đau quặn hạ sườn phải từng cơn dữ dội giống cơn đau do sỏi mật. Tuy nhiên sự khác biệt giữa 2 bệnh là trong LDD- TT cơn đau thường không kèm theo các triệu chứng nhiễm trùng và vàng da, còn trong sỏi mật thì ngược lại; Đau quặn theo khung đại tràng kèm rối loạn phân làm dễ nhầm lẫn với bệnh lý của đại tràng; Đau không rõ ràng, mờ nhạt nên người bệnh thường bỏ qua, ít chú ý.
 
Loét dạ dày: Thường gặp ở tuổi trung niên, nam nhiều hơn nữ; Đau có tính chất chu kỳ, thành đợt, diễn biến hàng tháng, hàng năm liên quan đến stress hay ăn uống không hợp lý; Đau ê ẩm hoặc dữ dội, đau quặn không thành cơn; Vị trí đau: loét tâm vị, mặt sau dạ dày đau khu trú phần trên thượng vị bên trái lan lên ngực trái.
Loét hành tá tràng: Gặp mọi lứa tuổi, thường gặp nam giới trẻ 18- 40; Đau mang tính chất chu kỳ rõ rệt theo thời gian trong ngày (ban đêm) hoặc theo mùa trong năm (mùa đông); Đau ê ẩm hoặc từng cơn dữ dội; Vị trí đau: đau rát bỏng, nóng ở vùng thượng vị lệch sang phải là triệu chứng sớm của bệnh tuỳ vị trí ổ loét ở mặt trước hay sau mà vị trí lan của đau ra trước, ra sau lưng hoặc lan toả ra xung quanh. Liên quan đến bữa ăn: đau bụng lúc đói, ăn vào đỡ đau, xuất hiện lại 2- 3h sau ăn.
 
Các triệu chứng khác: Rối loạn dinh dưỡng dạ dày: nôn, buồn nôn, nấc, ợ hơi, ợ chua, ợ nóng; Rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn nhu động ruột (hay gặp trong loét hành tá tràng): trướng hơi, táo bón, đau dọc theo khung đại tràng; Thiếu máu kiểu thiếu sắt; Giảm ngon miệng, chán ăn, sụt cân, mệt mỏi.
 
Thăm khám thực thể: thường không giúp ích nhiều cho chẩn đoán LDD- TT vì các triệu chứng thực thể rất nghèo nàn và ít gặp. Mục đích của thăm khám thực thể nhằm phát hiện các triệu chứng “báo động” của các biến chứng, hoặc các triệu chứng của các bệnh lý khác nên giúp ích cho chẩn đoán phân biệt nhiều hơn.
 
Ngoài việc thăm khám thông thường cần thực hiện chụp X quang dạ dày tá tràng, hoặc nội soi dạ dày tá tràng bằng ống soi mềm; thực hiện các thăm dò chức năng như hút dịch vị lúc đói, các nghiệm pháp kích thích đánh giá tình trạng bài tiết của dạ dày; xét nghiệm tìm Hp; Phương pháp xâm nhập: qua nội soi, sinh thiết mảnh niêm mạc dạ dày, tìm Hp. Phương pháp không xâm nhập: xét nghiệm huyết thanh học, Test thở với Urea C13 hoặc C14; Các xét nghiệm khác như công thức máu, điện giải đồ, sinh hóa máu để chẩn đoán bệnh và tìm các biến chứng.
 
 
Điều trị loét dạ dày tá tràng:
 
Nguyên tắc chung: Loại bỏ tất cả các yếu tố có hại cho dạ dày: rượu, hút thuốc lá, NSAID; Điều trị nội khoa một cách tích cực, đầy đủ, đúng cách, kiên trì; Điều trị nội khoa thất bại mới điều trị phẫu thuật.
 
Nguyên tắc điều trị nội khoa: Làm giảm acid, pepsin của dịch vị bằng các thuốc ức chế bài tiết hoặc các thuốc trung hoà acid. Tăng cường các yếu tố bảo vệ bằng các thuốc bọc niêm mạc, kích thích bài tiết chất nhầy và tái sinh tế bào niêm mạc dạ dày. Diệt trừ H. pylori bằng các kháng sinh, có thể kết hợp với muối bismuth. Điều trị theo đúng phác đồ, đủ thời gian, theo giai đoạn tấn công- duy trì, theo dõi đánh giá kết quả điều trị. Điều trị hỗ trợ nâng cao sức khoẻ bệnh nhân theo quan điểm điều trị toàn diện.
 
Loét dạ dày tá tràng là bệnh rất thường gặp gây đau bụng. Chẩn đoán có thể chỉ cần dựa vào triệu chứng lâm sàng hoặc cho điều trị thử. Nội soi hoặc chụp dạ dày cho những thể không điển hình và nhằm phát hiện các biến chứng cũng như phân biệt với ung thư dạ dày. Điều trị phải đảm bảo đủ thời gian và phải diệt Hp để giảm tỉ lệ tái phát. Việc tuyên truyền cho người dân có chế độ sinh hoạt hợp lý, bảo đảm vệ sinh góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh.
 
BS Cao Thị Phương Thảo

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Theo bạn, giao diện Cổng thông tin điện tử của Sở Y tế Hà Nội?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập23
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm20
  • Hôm nay2,377
  • Tháng hiện tại119,842
  • Tổng lượt truy cập2,482,213
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây