Một số đặc điểm theo dõi sau hút thai dưới 8 tuần trên sẹo mổ đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

Thứ ba - 26/12/2017 22:09
Thai trên sẹo mổ đẻ là một bệnh lý phức tạp với tỷ lệ mắc tăng dần cùng với tỷ lệ mổ đẻ.
Bệnh lý này có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng, có nhiều phương pháp để điều trị, trong đó phương pháp hút với những thai nhỏ hơn 8 tuần tuổi đã được áp dụng rộng rãi và hiệu quả tại Việt Nam. Tuy nhiên, sau hút thai khoảng thời gian ra máu âm đạo, nồng độ βhCG và hình ảnh siêu âm trở về bình thường kéo dài hơn trong trường hợp thai trong buồng tử cung. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu các đặc điểm này trên 65 bệnh nhân được hút thai nhỏ hơn 8 tuần trên sẹo mổ đẻ tại Bệnh viện phụ sản Hà Nội với kết quả về thời gian: Ra máu âm đạo: 35,4±12,3 ngày, nồng độ βhCG trở về bình thường: 67,2±13,4 ngày, hình ảnh siêu âm về bình thường: 167,2±45,3 ngày. Với kết quả nghiên cứu này các nhà lâm sàng có thể giải thích cho bệnh nhân về sự chậm trễ trở về bình thường của bệnh. Điều này làm giảm sự lo lắng cho bệnh nhân.
 
phathai3
Bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
 
Trên thế giới tỷ lệ mổ lấy thai thay đổi theo từng thời kỳ. Tại Mỹ, tỷ lệ mổ lấy thai gần 40% vào năm 1996 và giảm xuống còn 31,8% vào năm 2007. Tỷ lệ mổ lấy thai ngày càng gia tăng tại Việt Nam. Tỷ lệ mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương – Bệnh viện chuyên ngành sản phụ khoa lớn nhất miền Bắc Việt Nam – theo các năm có xu hướng tăng lên: 9%, 23%, 40,9%, 46%, 48,2% vào các năm tương ứng là 1960 của thập niên 90, 2006, 2011, 2012. Tỷ lệ mổ lấy thai ở Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cũng tăng lên trong những năm gần đây: 34,3% (2002), 49,2% (2011), 51,1% (2002).
 
Có nhiều nguyên nhân dần đến tình trạng này, có thể kể đến là do người Việt có niềm tin rằng tương lai của đứa trẻ phụ thuộc rất nhiều vào thời điểm chúng được sinh ra nên gia đình sẽ lựa chọn giờ tốt để mổ đẻ chủ động. Bên cạnh đó, những bà mẹ sinh lần đầu bằng phương pháp mổ sẽ làm tăng tỷ lệ mổ đẻ ở lần sinh tiếp theo.
Thai trên sẹo mổ đẻ được coi là một dạng của chửa ngoài tử cung, do thai làm tổ trong vết sẹo mổ đẻ trên cơ tử cung. Đây là một dạng bệnh lý hiếm gặp nhất của chửa ngoài tử cung (chiếm gần 1% đối với các trường hợp chửa ngoài tử cung, gần 0,15% các trường hợp có tiền sử mổ lấy thai, chiếm 1/1800 – 1/2500 thai phụ). Thai trên sẹo mổ đẻ có thể gây ra các biến chứng nặng nề nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời. Bệnh nhân có thể vỡ tử cung, băng huyết, cắt tử cung ở người trẻ tuổi, thậm trí ảnh hưởng tới tính mạng… việc chẩn đoán bệnh lý này chủ yếu dựa vào siêu âm qua đường âm đạo và một số trường hợp dựa vào MRI (Magnetic Resonance Imaging). Khi bệnh lý được chẩn đoán muộn ở tuổi thai lớn sẽ tạo ra bệnh lý rau cài răng lược, đây là bệnh lý có tỷ lệ cao phải cắt tử cung và số lượng máu mất trong cuộc mổ là rất nhiều. Một số trường hợp rau thai có thể xuyên qua các cơ tử cung, tiến sâu và gây các tổn thương các tổ chức xung quanh như bàng quang, ruột…
 
Tỷ lệ thai trên sẹo mổ đẻ rất khác nhau trong các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới. Theo Jurkovic và cộng sự tỷ lệ này xấp xỉ 1:1800 thai phụ. Theo Rotas và Ash tỷ lệ này là 1:2000 thai phụ, trong đó 0,15% thai trên sẹo mổ đẻ xuất hiện ở người bệnh có tiền sử mổ lấy thai ít nhất 1 lần và chiếm 6,1% người bệnh chửa ngoài tử cung có tối thiểu 1 lần mổ lấy thai.
 
Hiện nay trên thế giới chưa có phác đồ điều trị hữu hiệu. Có nhiều phương thức điều trị gồm 4 nhóm chính: điều trị nội khoa, can thiệp phẫu thuật, phồi hợp các phương pháp điều trị, chỉ theo dõi không can thiệp.
 
Tại Việt Nam, phương pháp hút thai kết hợp điều trị Methotrexate được sử dụng rộng rãi. Ưu điểm của phương pháp này là hiệu quả điều trị tương đối cao, đơn giản và giảm thời gian nằm viện của bệnh nhân. Điều này rất quan trọng với điều kiện thực tế tại Việt Nam khi số lượng bệnh nhân đông, luôn quá tải với các bệnh viện thuộc chuyên ngành sản phụ khoa. Tại khoa Điều trị bệnh lý phụ khoa của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội số lượng bệnh nhân thường gấp 1,5 đến 2 lần số giường bệnh, điều này thôi thúc việc sử dụng phương pháp làm giảm thời gian nằm viện.
 
Phương pháp điều trị này cũng không yêu cầu kỹ thuật cao, những nhân viên y tế thành thạo việc hút thai có thể tiến hành một cách đơn giản. Phương tiện sử dụng hỗ trợ đó là máy siêu âm 2D, đây là phương tiện sẵn có tại các bệnh viện tại Việt Nam. Chi phí cho việc sử dụng máy này cũng rất ít, phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt Nam. Bên cạnh đó, nhược điểm của phương pháp này là tăng nguy cơ chảy máu cho bệnh nhân. Trên thực tế lâm sàng tại Việt Nam, đối với những trường hợp thai nhỏ hơn 8 tuần trên sẹo mổ lấy thai thì phương pháp hút thai dưới siêu âm đã chứng minh được hiệu quả. Những bệnh nhân sau khi hút thai sẽ được theo dõi hàng tuần bằng lâm sàng, siêu âm và xét nghiệm βhCG. Bệnh nhân được coi là khỏi bệnh hoàn toàn khi hình ảnh siêu âm trở về bình thường, nồng độ βhCG<5 mUl/ml. Trong thời gian theo dõi nếu bệnh nhân ra máu âm đạo số lượng nhiều thì có thể thay đổi phương pháp điều trị hoặc tiến hành phẫu thuật.
 
Trong quá trình theo dõi, những bệnh nhân này vẫn ra máu âm đạo với số lượng ít (1 lần thay băng vệ sinh), sẫm màu. Bên cạnh đó, hình ảnh siêu âm và nồng độ βhCG trở về bình thường yêu cầu khoảng thời gian kéo dài. Đối với thai nghén trong buồng tử cung, bệnh nhân sau khi hút chỉ ra máu âm đạo ~ 1 tuần, nồng độ βhCG trở về giá trị bình thường sau 4 – 6 tuần, hình ảnh siêu âm trở về bình thường ngay sau hút thai. Sự khác biệt này gây ra hoang mang và lo lắng cho bệnh nhân. Họ luôn nghĩ tới việc điều trị không có hiệu quả và phải thay đổi phương pháp hoặc tiến hành phẫu thuật.
 
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm xác định một số chỉ số theo dõi sau hút thai trên sẹo mổ đẻ bao gồm: 1/ khoảng thoài gian ra máu âm đạo, 2/ thời gian hình ảnh siêu âm trở về bình thường và 3/ xét nghiệm βhCG trở về bình thường sau hút thai. Điều này giúp cho các bệnh nhân yên tâm trong quá trình theo dõi.
 
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: Bệnh nhân được chẩn đoán thai trên sẹo mổ đẻ bằng siêu âm qua đường âm đạo hoặc kết hợp siêu âm Dopplep. Tuổi thai ≤ 8 tuần. Bệnh nhân không có rối loạn chức năng tim, phổi, gan, thận. Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu bằng cách khám định kỳ theo hẹn.
 
Tiêu chuẩn loại trừ: Tuổi thai > 8 tuần. Trong quá trình theo dõi xảy ra biến chứng phải sử dụng kết hợp phương pháp khác để điều trị. Không khám định kỳ theo hẹn.
 
Chẩn đoán: siêu âm qua đường âm đạo. Được coi là phương pháp điều trị tốt nhất để chẩn đoán giúp chẩn đoán sớm nhất thai trên sẹo mổ đẻ. Trên mặt cắt dọc qua tử cung có thể xác định chính xác vị trí túi ối ở đoạn eo tử cung ngang sẹo mổ đẻ với độ nhạy 86,4% - 95%.
 
Tiêu chuẩn chẩn đoán thụ thai sau mổ đẻ qua siêu âm:
 
Buồng tử cung rỗng, không có hình ảnh túi ối trong buồng tử cung.
 
Ống cổ tử cung rỗng, không có hình ảnh túi ối trong ống cổ tử cung.
 
Túi thai nằm ở thành trước tử cung tương ứng sẹo mổ cũ. Lớp cơ tử cung giữa bàng quang và túi thai không thấy hay rất mỏng, có thể thấy hoặc không thấy hình ảnh của phôi thai và hoạt động tim thai.
 
Siêm âm đường bụng có thể được kết hợp cùng siêm âm đường bụng, tạo ra hình ảnh rộng của tử cung – phần phụ và đo được khoảng cách giữa túi thai và bàng quang khi bàng quang đầy nước tiểu. Qua đó, đo được độ dày của cơ tử cung giữa túi thai và bàng quang.
 
Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu được giải thích lựa chọn phương pháp hút thai để đình chỉ thai và thăm khám định kỳ theo hẹn.
 
Qua trình thực hiện hút thai và theo dõi bệnh nhân như sau: Bệnh nhân được hút thai bằng bơm hút chân không 1 hoặc 2 van và ống mềm Ipas số 4,5,6,7,8 dưới sự hướng dẫn của siêu âm 2 chiều sử dụng đầu dò đường bụng và đường âm đạo tại khoa A5 (khoa Chẩn đoán và điều trị các bệnh lý phụ khoa) hoặc phòng mổ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Nếu không có biến chứng, bệnh nhân sẽ được sử dụng kháng sinh và theo dõi nội trú 2 – 3 ngày, sau đó xuất viện. Bệnh nhân được hẹn khám lại với tần suất 1 tuần/ lần. Trong mỗi lần khám nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành siêu âm đường âm đạo vè xét nghiệm nồng độ βhCG cho bệnh nhân. βhCG trở về bình thường khi nồng độ < 5mUI/ml. Hình ảnh siêu âm được nhận định là hình ảnh âm vang hỗn hợp (loại trừ hình ảnh nhân xơ tử cung hoặc hình ảnh di căn của bệnh nguyên bào nuôi) vùng sẹo mổ cũ. Kết quả siêu âm được coi là bình thường khi hình ảnh khối âm vang hỗn hợp vùng sẹo mổ lấy thai biến mất. Kết quả thu được của đề tài là số ngày nồng độ βhCG, hình ảnh siêu âm trở về bình thường và bệnh nhân ngừng ra máu âm đạo.
 
Kết quả nghiên cứu: Tiến hành nghiên cứu trên 65 bệnh nhân được kết quả: ra máu âm đạo: 35,4±12,3 ngày; nồng độ βhCG trở về bình thường: 67,2±13,4 ngày; hình ảnh siêu âm về bình thường: 167,2±45,3 ngày.
 
Khuyến nghị: Thai trên sẹo mổ đẻ có thể điều trị an toàn bằng phương pháp hút thai. Thời gian theo dõi sau hút thai sẽ kéo dài hơn so với những trường hợp thai trong buồng tử cung. Điều này là hiện tượng bình thường và không cần thiết phải sử dụng các biện pháp can thiệp khác.
 
Ths.BSCKII Đỗ Khắc Huỳnh, Ths.BS Nguyễn Công Định/ảnh Nguyễn Vân
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Theo bạn, giao diện Cổng thông tin điện tử của Sở Y tế Hà Nội?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập22
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm20
  • Hôm nay2,338
  • Tháng hiện tại119,803
  • Tổng lượt truy cập2,482,174
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây