Những điều cần biết về bệnh bạch hầu  

Thứ ba - 10/09/2019 15:04
Bạch hầu là một bệnh nhiễm trùng, nhiễm độc do trực khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Bệnh lây qua đường hô hấp và có khả năng lây lan mạnh, nhanh chóng tạo thành dịch. Vị trí bị ảnh hưởng chủ yếu ở mũi và họng, đây cũng là nơi vi khuẩn thường khu trú.
Triệu chứng của bệnh bạch hầu
 
Giai đoạn đầu của bệnh bạch hầu khi giả mạc chưa xuất hiện thường là sốt nhẹ, mệt mỏi, sưng đau hạch cổ, sưng phù nền mô mềm vùng cổ, ho, khàn tiếng, chán ăn.
 
Sau 2-3 ngày nhiễm bệnh, có thể xuất hiện giả mạc hai bên thành họng, có màu trắng ngà, xám, đen, dai, dính, dễ chảy máu. Đây là đặc điểm để phân biệt bệnh bạch hầu với các chứng đau họng khác. Bệnh có thể qua khỏi hoặc trở nên trầm trọng và tử vong trong vòng 6-10 ngày.
 
Khi bệnh tiến triển có thêm các triệu chứng: Khó nuốt, khó thở hoặc thở nhanh, da nhợt nhạt, nổi vân tím và lạnh, tim nhanh, vã mồ hôi,..
 
Biến chứng của bệnh bạch hầu
 
Độc tố bạch hầu có thể gây tổn thương nhiều tổ chức cơ quan của cơ thể nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời như:
 
- Viêm cơ tim, tổn thương hệ thần kinh dẫn truyền cơ tim, tử vong do đột ngột trụy tim mạch. Một số bệnh nhân bị viêm cơ tim và van tim, sau nhiều năm gây ra bệnh tim mãn và suy tim.
 
- Thoái hóa thận, hoại tử ống thận, chảy máu lớp tủy và vỏ thượng thận.
 
- Tắc nghẽn đường hô hấp và gây tử vong trong vòng 6-10 ngày.
 
Nguồn lây: Chủ yếu là người bệnh (thể điển hình hoặc thể ẩn). Người bệnh bài tiết ra vi khuẩn từ thời kỳ cuối ủ bệnh, đến khi khỏi về lâm sàng. Người vừa khỏi bệnh có thể còn mang vi khuẩn từ 2 tuần đến 2 tháng. Do đó những người vừa khỏi bệnh vẫn nên được theo dõi và áp dụng các biện pháp dự phòng để hạn chế bệnh lây lan.
 
Đường lây truyền
Lây truyền trực tiếp: Từ người bệnh sang người lành qua đường hô hấp (khi cười, nói, ho, hắt hơi).
 
Lây truyền gián tiếp: Thông qua đồ dùng, thức ăn và đồ uống mang vi khuẩn của bệnh nhân.
 
Người có nguy cơ mắc bệnh bạch hầu
 
- Tất cả trẻ em và người lớn không được tiêm vắc-xin phòng bệnh bạch hầu hoặc tiêm chủng không đầy đủ. Đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi và người già yếu trên 60 tuổi là những đối tượng nguy cơ cao của bệnh vì khả năng miễn dịch kém.
 
- Những người sống trong điều kiện đông đúc, vệ sinh kém.
 
- Các đối tượng di chuyển, đi lại, lưu trú tại vùng có dịch hoặc bệnh bạch hầu lưu hành. 
 
Phòng bệnh
 
Tiêm phòng vắc- xin là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất. Cục Y tế dự phòng khuyến cáo người dân cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
 
- Tiêm vắc xin phối hợp phòng bệnh bạch hầu: ComBeFive (bạch hầu, uốn ván, ho gà, viêm gan B và viêm phổi/ viêm màng não mủ do vi khuẩn Hib) hoặc DTP (bạch hầu, uốn ván và ho gà), Td (bạch hầu, uốn ván) đầy đủ, đúng lịch theo hướng dẫn của cơ quan y tế.
 
- Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng; che miệng khi ho hoặc hắt hơi; giữ vệ sinh thân thể, mũi, họng hàng ngày; hạn chế tiếp xúc với người mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh.
 
- Đảm bảo nhà ở, nhà trẻ, lớp học thông thoáng, sạch sẽ và có đủ ánh sáng.
 
- Khi có dấu hiệu mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu phải được cách ly và đưa đến cơ sở y tế để được khám, điều trị kịp thời.
 
Lịch tiêm ComBe Five, DTP trong chương trình tiêm chủng mở rộng.
Mũi 1: Tiêm khi trẻ được 2 tháng tuổi.
Mũi 2: Sau mũi thứ nhất 1 tháng.
Mũi 3: Sau mũi thứ hai 1 tháng.
Mũi 4: Khi trẻ 18 tháng tuổi.
Đỗ Hương

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây