Phơi nhiễm HIV hiểu đúng để điều trị kịp thời

Thứ sáu - 27/09/2019 16:02
Theo định nghĩa của Bộ Y tế thì phơi nhiễm HIV là thuật ngữ dùng để chỉ sự tiếp xúc niêm mạc hay da của người không bị bệnh với máu, mô hay các dịch cơ thể của người khác dẫn đến nguy cơ lây nhiễm HIV. Trên thực tế, không phải trường hợp nào những người bị phơi nhiễm HIV cũng đồng nghĩa với việc sẽ bị nhiễm HIV.
Theo Cục Phòng, chống HIV/AIDS (Bộ Y tế), những trường hợp được gọi là phơi nhiễm HIV do: bị kim đâm vào khi làm thủ thuật y tế tiêm truyền hoặc lấy máu làm xét nghiệm; vết thương do dao mổ hay các dụng cụ sắc nhọn chọc, đâm vào gây chảy máu; bị tổn thương qua da do các ống đựng máu hoặc chất dịch của người bệnh bị vỡ đâm vào; máu, chất dịch của người có HIV bắn vào các vùng da bị tổn thương, vào niêm mạc (mắt, mũi, họng); bị người khác dùng kim tiêm đã sử dụng có máu (có chứa vi rút HIV) đâm vào.
 
Ảnh Chính st 26 9 Xử lý sau phơi nhiễm giúp hạn chế được những nguy cơ lây nhiễm HIV
Xử lý sau phơi nhiễm giúp hạn chế được những nguy cơ lây nhiễm HIV. (sưu tầm)
 
Tuy nhiên trên thực tế, không phải trường hợp nào người bị phơi nhiễm HIV cũng đồng nghĩa với việc bị nhiễm HIV. Điều này còn tuỳ thuộc vào từng hành vi cụ thể và mức độ nguy cơ của những hành vi đó. Do vậy, việc xử lý sau phơi nhiễm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp hạn chế được những nguy cơ lây nhiễm HIV. Cục Phòng, chống HIV/AIDS đưa ra quy trình xử lý gồm 7 bước:
 
Bước 1: xử lý vết thương tại chỗ: rửa ngay vết thương dưới vòi nước; để vết thương tự chảy máu trong một thời gian ngắn, không nặn bóp vết thương; rửa kỹ bằng xà phòng và nước sạch. Nếu phơi nhiễm qua niêm mạc mắt: rửa mắt bằng nước cất hoặc nước muối NaCl 0,9% liên tục trong 5 phút, dùng vòi rửa mắt khẩn cấp nếu có. Nếu phơi nhiễm qua niêm mạc miệng, mũi: rửa mũi bằng nước cất hoặc dung dịch NaCl 0,9 % và xúc miệng bằng NaCl 0,9 % nhiều lần.
 
Bước 2: báo cáo người phụ trách và làm biên bản (chú ý ghi đầy đủ ngày, giờ).
 
Bước 3: đánh giá nguy cơ phơi nhiễm theo mức độ tổn thương và diện tích tiếp xúc.Những trường hợp có nguy cơ gồm:
 
Tổn thương do kim đâm: nếu là kim nòng rỗng cỡ to, chứa nhiều máu, đâm sâu thì nguy cơ cao hơn là kim nòng nhỏ, chứa ít máu và đâm xuyên nông.
 
Tổn thương da sâu do dao mổ hoặc các ống nghiệm chứa máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bị vỡ đâm phải.
 
Máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bắn vào các vùng da, niêm mạc bị tổn thương viêm loét hoặc xây sát từ trước (thậm chí ngay cả khi không biết có bị viêm loét hay không). Nếu viêm loét hoặc xây sát rộng thì nguy cơ cao hơn.
 
Bước 4: xác định tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm.
 
Bước 5: xác định tình trạng HIV của người bị phơi nhiễm. Nếu kết quả xét nghiệm HIV dương tính ngay sau khi phơi nhiễm chứng tỏ người bị phơi nhiễm đã nhiễm HIV từ trước, không phải do phơi nhiễm.
 
Dừng sử dụng thuốc ARV cho dự phòng sau phơi nhiễm. Tư vấn, chuyển người bị phơi nhiễm đến cơ sở điều trị HIV để được điều trị.
 
Bước 6: tư vấn cho người bị phơi nhiễm.
 
Bước 7: điều trị dự phòng bằng thuốc ARV, càng sớm càng tốt, tối ưu nhất trong vòng 72 giờ.
 
Hiện nay, chỉ các trường hợp bị phơi nhiễm khi đang làm nhiệm vụ chuyên môn mới được điều trị dự phòng miễn phí, còn các trường hợp phơi nhiễm cộng đồng không được cấp chế độ này. Tuy nhiên, những người bị phơi nhiễm có thể mua thuốc tại các hiệu thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Chi phí cho một lần điều trị phơi nhiễm bằng thuốc ARV do Việt Nam sản xuất khoảng 1,2 triệu đồng.
 
Trong thời gian điều trị dự phòng ARV, cần theo dõi tác dụng phụ của thuốc ARV thông qua các xét nghiệm: xét nghiệm công thức máu, đo chỉ số men gan ALT/SGPT lúc bắt đầu điều trị và sau khi điều trị được hai tuần, xét nghiệm đường máu. Đồng thời, người bị phơi nhiễm cần xét nghiệm HIV sau một, ba và sáu tháng kể từ thời điểm bị phơi nhiễm. Trong thời gian này, người bị phơi nhiễm cần thực hiện các biện pháp dự phòng lây nhiễm cho người khác. Sau sáu tháng xét nghiệm HIV mà cho kết quả âm tính, người bị phơi nhiễm có thể yên tâm rằng đã không bị lây nhiễm HIV trong tình huống đó.
 
Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (PEP) là một can thiệp y khoa dựa vào khả năng ức chế vi rút HIV của thuốc kháng HIV (ARV). Nó giúp ngăn chặn HIV ngay từ ban đầu và khiến cho chúng ta không bị lây nhiễm HIV. Bệnh nhân có thể điều trị dự phòng sau phơi nhiễm nếu đủ các yếu tố sau: chưa nhiễm HIV hoặc chưa rõ tình trạng huyết thanh của mình; có phơi nhiễm với HIV hoặc nghi ngờ phơi nhiễm với HIV (quan hệ không bao, rách bao, bị kim đâm…).
Chí Dũng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây