Thực hiện các chỉ tiêu phòng chống lây truyền HIV từ mẹ sang con còn thấp

Thứ hai - 24/12/2018 21:50
Hàng năm, Việt Nam có khoảng gần 2 triệu phụ nữ mang thai và ước tính tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mang thai là 0,19% thì mỗi năm ở nước ta có hơn 3800 phụ nữ mang thai nhiễm HIV. Nếu không có can thiệp thì tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con khoảng 30-40%, ước tính mỗi năm Việt Nam có khoảng 1140-1520 trẻ em sinh ra nhiễm HIV từ các bà mẹ nhiễm HIV.
Việt Nam đã triển khai công tác dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con trong chương trình phòng chống HIV/AIDS từ năm 2005. Bộ Y tế đã xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản quan trọng, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác phòng, chống HIV/AIDS nói chung và công tác dự phòng lây truyền mẹ con nói riêng.
 
Từ năm 2016, các can thiệp về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con được lồng ghép vào hệ thống chăm sóc sức khỏe sinh sản theo Quyết định số 5650/QĐ-BYT ngày 1/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế về quy chế phối hợp giữa hệ thống phòng chống HIV/AIDS và hệ thống chăm sóc sức khỏe sinh sản trong triển khai dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con. Đồng thời, báo cáo về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con cũng được tích hợp vào hệ thống báo cáo về sức khỏe sinh sản.
 
Tuy nhiên, vẫn còn một số thách thức trong công tác dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con. Cụ thể, về phối hợp tổ chức triển khai tại địa phương chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị trong việc cung cấp dịch vụ chuyển gửi, quản lý theo dõi tránh mất dấu bệnh nhân, thống kê và báo cáo. Về triển khai các can thiệp dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con có địa phương chưa triển khai cung cấp dịch vụ dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con trên phạm vi toàn tỉnh, thành phố theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Năm 2014, Bộ Y tế đã thực hiện khảo sát tại 6 tỉnh, thành phố cho thấy tuyến xã chỉ cung cấp dịch vụ tư vấn dự phòng lây truyền mẹ con. Tuyến huyện hầu như không cung cấp dịch vụ điều trị ARV dự phòng lây truyền trong khi đẻ. Tuyến tỉnh ngay sau khi phụ nữ mang thai có kết quả xét nghiệm sàng lọc HIV dướng tính đã chuyển tiếp sang ngay cơ sở chăm sóc và điều trị HIV/AIDS và sau đó không có thông tin phản hồi. Như vậy là không thực hiện đúng quy trình tư vấn và xét nghiệm HIV theo quy định của Bộ Y tế.
 
Việc thực hiện các chỉ tiêu còn thấp, cụ thể tỷ lệ phụ nữ đẻ được xét nghiệm sàng lọc HIV trước và trong thời gian mang thai là 38,5%, thấp hơn so với số phụ nữ đẻ được xét nghiệm sàng lọc HIV trong khi chuyển dạ (57,6%). Tỷ lệ phụ nữ đẻ được xét nghiệm sàng lọc HIV trong khi mang thai thấp nhất là khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (chỉ đạt 19,7%). Trung du và miền núi phía Bắc cũng có tỷ lệ rất thấp (21,3%). Khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long có tỷ lệ xét nghiệm sàng lọc HIV trước và trong khi mang thai cao hơn, lần lượt là 61% và 44,1%. Vẫn còn 3,9% phụ nữ đẻ chưa được xét nghiệm sàng lọc HIV. Nguyên nhân của việc xét nghiệm sàng lọc HIV ở giai đoạn mang thai còn khá thấp là do việc tư vấn của cán bộ y tế còn hạn chế; chưa sẵn có dịch vụ xét nghiệm sàng lọc HIV tại trạm y tế - nơi chủ yếu quản lý và khám thai ban đầu - cũng làm cản trở việc tiếp cận xét nghiệm sớm của các phụ nữ mang thai. Nhận thức của người dân, đặc biệt là các phụ nữ mang thai còn nhiều hạn chế trong việc cần đi khám thai sớm, khám thai 3 lần trong thai kỳ; nhiều bà mẹ nhiễm HIV còn sợ bị kỳ thị nên ngại xét nghiệm.
 
Hiện vẫn còn 12,5% số phụ nữ đẻ nhiễm HIV chưa được điều trị ARV. Trong tổng số 1413 phụ nữ có thai nhiễm HIV được điều trị ARV vẫn còn 233 trường hợp (16,2%) phụ nữ có thai chỉ được bắt đầu điều trị ARV khi chuyển dạ đẻ.
 
Tỷ lệ trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV được làm xét nghiệm PCR lần 1 trong vòng 18 tháng tuổi vẫn còn thấp chỉ đạt 48,9% (năm 2017). Số trẻ nhiễm HIV mới được phát hiện có xu hướng gia tăng tại một số tỉnh, chủ yếu gặp ở trường hợp mẹ không được phát hiện nhiễm HIV trong khi mang thai hoặc chỉ được phát hiện HIV khi chuyển dạ hoặc mẹ nhiễm HIV không tuân thủ điều trị trong thời gian mang thai.
 
Thông tin, giáo dục truyền thông về phòng chống lây truyền HIV từ mẹ sang con chưa được đẩy mạnh. Các thông tin về HIV/AIDS, đặc biệt là thông tin về phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con chưa được phổ biến đến phụ nữ ở độ tuổi sinh sản, nhất là phụ nữ mang thai; thông điệp truyền thông còn mang tính chung chung, chưa có tài liệu truyền thông đặc thù về phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.
 
Bên cạnh đó, sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS ngay trong mỗi gia đình, cộng đồng và trong các cơ sở y tế vẫn là rào cản khiến phụ nữ mang thai không tìm đến các dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện hoặc từ chối làm xét nghiệm HIV hoặc nếu đồng ý xét nghiệm cũng không quay lại nhận kết quả gây khó khăn cho việc theo dõi và điều trị dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con cho những phụ nữ mang thai nhiễm HIV.
 
Chất lượng và quy trình khám thai còn chưa được tuân thủ chặt chẽ. Mặc dù tỷ lệ khám thai 3 lần trong 3 thai kỳ đạt trên 80% nhưng việc tư vấn xét nghiệm sàng lọc trong lần khám thai đầu tiên chưa được chú trọng. Ngoài ra, vẫn còn nhiều phụ nữ chỉ đến khám thai vào giai đoạn cuối của thai kỳ, do đó khó có thể chẩn đoán và điều trị dự phòng kịp thời lây nhiễm HIV từ mẹ sang con.
 
Cán bộ y tế, các bà mẹ nhiễm HIV thiếu kiến thức về cách nuôi con. Hệ thống chăm sóc, theo dõi sức khỏe cho các bà mẹ nhiễm HIV và con của họ sau khi sinh hiện chưa có. Kinh phí của chương trình quốc gia hàng năm dành cho chương trình phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con hạn chế. Ngoài ngân sách cho chương trình phòng chống HIV/AIDS, chưa huy động được nguồn lực của các tổ chức xã hội, các ban, ngành đoàn thể khác cho chương trình dự phòng lây truyền mẹ con. Cung ứng thuốc ARV điều trị liên tục cũng là vấn đề khó khăn, nhất là những bối cảnh ngân sách và hỗ trợ quốc tế bị cắt giảm.
 
Chính vì vậy, Bộ Y tế đã ban hành kế hoạch hành động quốc gia tiến tới loại trừ HIV, viêm gan B và giang mai lây truyền từ mẹ sang con giai đoạn 2018-2030 với chỉ tiêu cần đạt được là giảm còn ≤ ca nhiễm mới HIV ở trẻ sơ sinh trên 100.000 trẻ đẻ sống; khống chế tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con dưới 5% ở trẻ bú mẹ hoặc dưới 2% ở trẻ không bú mẹ.
 
Hồng Thương

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Theo bạn, giao diện Cổng thông tin điện tử của Sở Y tế Hà Nội?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập44
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm43
  • Hôm nay5,226
  • Tháng hiện tại270,643
  • Tổng lượt truy cập6,399,541
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây