Thực trạng học sinh là nạn nhận bạo lực học đường tại trường THPT Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2017

Thứ bảy - 22/12/2018 09:39
Bạo lực học đường là hành vi cố tình sử dụng sức mạnh hoặc quyền lực, đe dọa hoặc làm thật, chống lại một người hoặc một nhóm người dẫn đến tổn thương về tâm lý, thể chất, thương tật hoặc tử vong.
Bạo lực học đường (BLHĐ) được hiểu là bạo lực giữa các học sinh hay nhóm học sinh, hành vi bạo lực thực hiện trong khu vực trường học, trên đường tới trường, từ trường về nhà, hoặc trong các hoạt động ngoại khóa mà nhà trường tổ chức. Có thể chia BLHĐ thành 4 nhóm: bạo lực về thể chất, bạo lực bằng lời nói, bạo lực mối quan hệ xã hội, bạo lực điện tử. Xã hội hiện đại ghi nhận sự gia tăng nhanh chóng của nạn bạo lực, đặc biệt trong môi trường học đường.
 
Tại Việt Nam, BLHĐ là vấn nạn, thậm chí người có hành vi bạo lực cũng đã từng là nạn nhân của các vụ BLHĐ. Trong năm học 2011-2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thống kê trên toàn quốc xảy ra gần 1.600 vụ việc học sinh đánh nhau, tình trạng đánh nhau có sự tham gia tổ chức thành các nhóm có hung khí ngày càng phổ biến hơn. Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh 13 -17 tuổi ở Việt Nam năm 2013 của Bộ Y tế cho thấy tỷ lệ học sinh đã từng bị đánh trong vòng 1 năm là 21,0%; 16,5% đã từng tham gia các cuộc đánh nhau.
 
Tuy nhiên, các nghiên cứu về BLHĐ tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng thường tập trung vào học sinh có hành vi gây BLHĐ mà ít đề cập đến học sinh là những nạn nhân của BLHĐ. Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước cũng chú trọng đến khu vực nội thành hơn khu vực ngoại thành - nơi mà học sinh còn gặp nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế, ít nhận được quan tâm, đầu tư hơn của cha mẹ. Trong khi đó, hiện nay thành phố Hà Nội có 206 trường Trung học phổ thông, với gần 190 nghìn học sinh, số học sinh ngoại thành chiếm trên 60%. Tình hình học sinh bị BLHĐ ở khu vực ngoại thành hiện nay như thế nào vẫn là một câu hỏi chưa được giải đáp.
 
Nghiên cứu trạng học sinh là nạn nhân của BLHĐ tại Trường trung học phổ thông Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội cho thấy, tỷ lệ học sinh đã từng bị một trong những hành vi bạo lực trong vòng 6 tháng là 10,6%. Khi phân nhỏ các hình thức BLHĐ cho thấy có 8,4% học sinh trả lời rằng đã từng bị một trong những hành vi bạo lực lời nói trong 6 tháng trước thời điểm nghiên cứu. Trong đó phổ biến nhất là bị gọi tên bố mẹ chiếm tỷ lệ 5,2%, tiếp theo là bị gán/gọi biệt danh (3,4%), bị sỉ nhục (1,3%) và cuối cùng là bị dùng lời nói đe dọa/ép buộc phải làm theo ý bạn (0,2%).
Bên cạnh đó, có 1,9% học sinh bị bạo lực dạng mối quan hệ xã hội. Trong đó học sinh bị phân biệt đối xử, cô lập, tẩy chay chiếm 1,1%; học sinh bị tạo/phát tin đồn là 1,3%.
 
Ngoài ra có 1,8% học sinh đã từng bị bạo lực thể chất, Trong đó, tỷ lệ đã từng bị đánh, đá, xé quần áo là 1,3% và chỉ 4 học sinh (0,5%) nói rằng đã từng bị trấn lột tiền hoặc đồ vật.
 
Loại hình nạn nhân bị bạo lực điện tử ít phổ biến nhất. Chỉ có 1 học sinh (0,1%) trả lời rằng đã từng bị nhắn tin, gọi điện để uy hiếp, đe dọa, ép buộc trong vòng 6 tháng trước thời điểm nghiên cứu.
 
Học sinh nam có tỷ lệ bị BLHĐ cao hơn học sinh nữ ở tất cả các dạng bạo lực. Tỷ lệ nam giới bị ít nhất 1 hành vi BLHĐ là 17,7% tỷ lệ này ở nữ giới chỉ 6,6%.
 
Theo phân loại về khối lớp, học sinh khối 10 có tỷ lệ bị bạo lực thấp hơn học sinh khối 11 và 12 ở dạng: thể chất và mối quan hệ xã hội. Xét về dạng bị bạo lực lời nói, bạo lực điện tử và tình trạng bị ít nhất 1 hành vi bạo lực thì học sinh khối 10 chiếm cao nhất trong 3 khối. 12,7% học sinh khối 10 bị ít nhất 1 hành vi bạo lực, tiếp đến là lớp 11 (10,1%) và thấp nhất ở lớp 12 (7,4%).
 
Trong số 89 học sinh là nạn nhân của BLHĐ, nguyên nhân phổ biến nhất mà các em trở thành nạn nhân là trêu chọc hoặc nói xấu nhau (59,6%), sau đó là những nguyên nhân khác biệt về lối sống (15,7%), các nguyên nhân như ghen tị, học hành, bạn hiền quá, ít hòa đồng với bạn bè… (13,5%); liên quan đến chuyện tình cảm (11,2%), nguyên nhân bắt nguồn từ những mâu thuẫn cá nhân (11,2%) và thấp nhất là từ những mâu thuẫn giữa bạn của học sinh (5,6%).
 
Để tìm hiểu mối liên quan đa biến giữa các yếu tố với tình trạng bị BLHĐ của học sinh và khống chế ảnh hưởng của một số yếu tố nhiễu, sau khi phân tích đơn biến số liệu được đưa vào mô hình hồi quy đa biến.
 
Dựa vào tổng quan tài liệu và dựa trên các mối liên quan đã được mô tả ở phần kiểm định đơn biến có ý nghĩa thống kê, có 14 biến số được đưa vào mô hình logictics để phân tích mối liên quan với tình trạng là nạn nhân của BLHĐ. Các biến số đó là: Giới tính, khối lớp, hạnh kiểm, nghề bố, nghề mẹ, trình độ học vấn của bố, sự chăm sóc của bố mẹ, không có bạn thân, có bạn thân tham gia BLHĐ, đánh giá của học sinh về kỷ luật của trường về BLHĐ, hút thuốc lá, uống rượu bia, mang vũ khí, có ý định tự tử. Lựa chọn phương pháp chọn lùi "Backward".
 
Sau khi đưa mô hình đa biến, 2 yếu tố được coi là có mối liên quan tới tình trạng bị bất kỳ hành vi BLHĐ nào trong vòng 6 tháng trước điểm nghiên cứu là: giới tính, nghĩ đến việc tự tử. Nhóm học sinh nam có nguy cơ bị bạo lực cao hơn so với học sinh nữ với OR = 2,7 (95%CI: 1,1 - 6,3). Học sinh đã từng nghĩ đến việc tự tử có nguy cơ bị bạo lực cao hơn nhóm chưa từng nghĩ đến, OR = 3,0 (95%CI: 1,2 - 7,2). Kết quả nghiên cứu là bằng chứng cho việc xây dựng các biện pháp can thiệp phù hợp nhằm hạn chế tình trạng bạo lực học đường một cách hiệu quả.
 
Nguyễn Thị Thi Thơ
(Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương)
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập96
  • Hôm nay6,410
  • Tháng hiện tại298,539
  • Tổng lượt truy cập5,473,197
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây