Tiêm phòng đầy đủ và đúng lịch để giảm tỷ lệ người nhiễm vi rút viêm gan B

Thứ ba - 25/09/2018 23:22
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam có khoảng 7,8 triệu người mắc viêm gan B mạn tính, hơn 13.000 người bị xơ gan mất bù, gần 6.000 người bị ung thư tế bào gan và hơn 6.400 người tử vong do bệnh gan gây nên.
phong viem gan b cho tre
Tiêm phòng cho trẻ tại TTYT quận Đống Đa.
 
PGS.TS.BS Trịnh Thị Ngọc, Phó Chủ tịch Hội gan mật Hà Nội cho biết, tỷ lệ mắc các bệnh lý về gan ở Việt Nam có xu hướng gia tăng, nhiều trường hợp phát hiện bệnh đã ở giai đoạn nặng, cơ hội sống cho người bệnh rất ít. Tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan của một số nhóm dân cư là từ 6 - 20% đối với vi rút viêm gan B và khoảng 2 - 4% với vi rút viêm gan C.
 
Viêm gan B là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút viêm gan B (HBV) gây ra. Ở nước ta, tỷ lệ người nhiễm viêm gan B chiếm đến 10-20% dân số. Đây được xem là nguyên nhân hàng đầu gây các biến chứng nguy hiểm như xơ gan và ung thư gan.
 
Vi rút viêm gan B lây truyền qua 3 con đường: máu, quan hệ tình dục và từ mẹ sang con. Trong đó, đường lây truyền từ mẹ sang con khá phổ biến do tỷ lệ thai phụ ở Việt Nam mắc viêm gan siêu vi B khá cao, chiếm 10-15%. Cứ 10 người bị nhiễm viêm gan B phải có đến 6 người bị nhiễm từ mẹ.
 
PGS.TS.BS Trịnh Thị Ngọc cũng cho biết, tỷ lệ lây bệnh của vi rút viêm gan B từ mẹ có thai sang em bé tùy thuộc tình trạng nhiễm viêm gan B của mẹ. Nếu vi rút đang phát triển và sinh sản mạnh, tỷ lệ lây sang em bé từ trên 50-90%. Nếu vi rút phát triển và sinh sản kém thì tỉ lệ lây không cao, khoảng 30%. Nếu vi rút ở dạng không hoạt động thì tỉ lệ lây nhiễm thấp đi rất nhiều, có thể dưới 10%.
 
Phụ nữ bị nhiễm viêm gan B trước hoặc trong khi mang thai có thể truyền bệnh sang con trong quá trình sinh nở với tỷ lệ lên đến 90% nếu không có biện pháp bảo vệ ngay sau sinh. 50% số trẻ này sẽ bị viêm gan mạn tính và có nguy cơ bị xơ gan lúc trưởng thành.
 
Về đường lây bệnh viêm gan B khi đang mang thai đến nay chưa ghi nhận, mà là lây trong lúc sinh: máu từ nhau thai bong tróc truyền cho bé; sản dịch, máu của mẹ lây cho trẻ sơ sinh; trẻ sơ sinh hít hoặc nuốt phải dịch có siêu vi viêm gan B từ người mẹ. Người mẹ có thể truyền siêu vi viêm gan B cho con khi sinh, dù sinh thường hay sinh mổ.
 
Bệnh viêm gan B hoàn toàn có thể phòng ngừa chủ động bằng vắc xin và có thuốc điều trị hiệu quả, làm chậm quá trình tiến triển đến xơ gan và giảm tỷ lệ mắc ung thư gan và cải thiện tỷ lệ sống sót lâu dài. Có thể nói, vắc xin viêm gan B là phương pháp tốt nhất để phòng chống bệnh viêm gan B.
 
Để giảm nguy cơ lây nhiễm bệnh viêm gan B cho trẻ từ mẹ là trẻ sơ sinh cần được tiêm phòng viêm gan B trong vòng 12-24 giờ đầu sau sinh. Khi đó bé sẽ có hơn 95% cơ hội không bị mắc viêm gan B sau này. Nếu không tiêm phòng đúng cách (hoặc tiêm phòng quá muộn), bé có nguy cơ viêm gan B rất cao.
 
Trong lịch tiêm chủng mở rộng quốc gia được ban hành vào năm 2015, trẻ em sẽ được tiêm mũi đầu tiên vắc-xin viêm gan B ngay lúc mới sinh, mũi thứ sau mũi 1 một tháng tuổi, mũi thứ ba sau mũi 2 một tháng và tiêm nhắc lại mũi 4 sau một năm.
 
Riêng với trẻ sơ sinh có mẹ bị nhiễm viêm gan B, ngoài 1 mũi vắc xin ngừa viêm gan B như các trẻ khác, bé cần được tiêm 1 mũi kháng thể (huyết thanh kháng viêm gan B) HBIg (Hepatitis B Immune Globulin) ngay trong vòng 12 -24 giờ đầu sau sinh. Mục đích của việc tiêm chủng này: Globulin miễn dịch kháng viêm gan B để tạo miễn dịch thụ động và một mũi vắc xin viêm gan B tái tổ hợp để tạo miễn dịch chủ động cho trẻ. Vị trí tiêm kháng thể HBIg phải khác vị trí tiêm vắc xin viêm gan B.
 
Khi trẻ được 15-18 tháng tuổi cần được xét nghiệm kiểm tra HBsAg và antiHBs lại để chắc chắc là trẻ đã được bảo vệ và không bị lây nhiễm vi rút viêm gan B từ mẹ.
 
PGS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc khuyến cáo, phụ nữ nên chủ động tiêm vắc xin phòng gan B để bảo vệ cho cả mẹ và con không bị lây nhiễm vi rút HBV. Tốt nhất là nên tiêm trước khi mang thai để vắc xin có đủ thời gian tạo kháng thể phòng bệnh.
 
Phụ nữ nhiễm vi rút viêm gan B vẫn có thể mang thai. Nếu đã bị lây nhiễm và xét nghiệm cho thấy vi rút đang hoạt động thì phải điều trị cho vi rút về trạng thái không hoạt động rồi mới mang thai. Trong suốt qua trình mang thai phải thường xuyên theo dõi, khám thai định kỳ hay bất cứ lúc nào cảm thấy sức khỏe thai kỳ bất ổn để nhanh chóng có sự điều chỉnh. Đặc biệt, trong 3 tháng cuối thai kỳ, mẹ nên được bác sĩ chuyên khoa khám và tư vấn, được xét nghiệm theo dõi và quyết định dùng thuốc ngắn hạn để giảm lượng vi rút trong máu, nhằm giảm khả năng lây cho thai khi chuyển dạ và sinh đẻ.
 
Phạm Mai Phương

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập43
  • Máy chủ tìm kiếm19
  • Khách viếng thăm24
  • Hôm nay5,573
  • Tháng hiện tại247,380
  • Tổng lượt truy cập4,214,865
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây