Đảm bảo an toàn truyền máu là ưu tiên hàng đầu

Thứ ba - 26/02/2019 03:38
Máu và các chế phẩm từ máu được sử dụng ngày càng nhiều trong công tác chữa bệnh. Việc chỉ định đúng, sử dụng hợp lý máu và các chế phẩm máu là vô cùng quan trọng vì sai sót có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.
Theo Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, thuật ngữ an toàn truyền máu phải được hiểu theo nghĩa rộng là an toàn cho người cho máu, an toàn cho nhân viên làm công tác truyền máu và an toàn cho người nhận máu. Trong an toàn truyền máu, việc sàng lọc các bệnh lây nhiễm qua đường truyền máu có tầm quan trọng rất lớn để góp phần chủ động ngăn ngừa tình trạng nhiễm bệnh của người nhận máu từ máu đã được truyền.
 
An toàn truyền máu là một quy trình khép kín gồm nhiều giai đoạn từ khi tuyển chọn người hiến máu, khám lâm sàng, làm các xét nghiệm sàng lọc, thu thập máu, sản xuất các chế phẩm máu, lưu trữ, phân phối máu... đến chỉ định truyền máu và thực hành truyền máu trên lâm sàng. Trong đó, giai đoạn sàng lọc để phát hiện các mầm bệnh nguy hiểm tiềm ẩn có trong máu truyền là yếu tố vô cùng quan trọng, giúp ngăn ngừa việc người nhận máu mắc phải các bệnh truyền nhiễm.
 
Linh22 2DSC 6543
An toàn truyền máu gồm an toàn cho người cho máu, an toàn cho nhân viên làm công tác truyền máu và an toàn cho người nhận máu.
 
Công tác truyền máu là toàn bộ các hoạt động để đưa máu, chế phẩm máu vào người bệnh với mục đích chữa bệnh, thực chất là đưa thành phần sống của cơ thể này vào cơ thể khác. An toàn truyền máu là người nhận máu đạt được hiệu quả điều trị mà không bị ảnh hưởng xấu do truyền máu mang lại, người cho máu và những người khác (gồm cả nhân viên y tế) không bị ảnh hưởng sức khỏe. Như vậy, có thể nói truyền máu chỉ đạt hiệu quả khi truyền máu an toàn.
 
Thời gian qua, Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương áp dụng nhiều kỹ thuật tiên tiến để bảo đảm an toàn trong sàng lọc, tránh lây truyền các bệnh qua đường máu. Nhờ đó, đã mở ra kỷ nguyên mới bảo đảm an toàn truyền máu, cung cấp nguồn máu theo tiêu chuẩn và kịp thời.
 
Trước đây, việc phát hiện các vi rút lây qua đường truyền máu vẫn được thực hiện bằng các xét nghiệm huyết thanh học. Nhưng với những người mới bị nhiễm bệnh thì lượng vi rút còn quá ít, cơ thể chưa tạo ra kháng thể, nên kỹ thuật này chưa thể phát hiện được. Đây được gọi là giai đoạn cửa sổ. Tuy giai đoạn cửa sổ đã được rút ngắn hơn trước rất nhiều nhờ kỹ thuật điện hóa phát quang, nhưng nguy cơ người nhận máu bị lây nhiễm bệnh qua đường truyền máu vẫn còn. Chính vì thế, rút ngắn giai đoạn cửa sổ để phát hiện sớm nhất các bệnh lây qua đường truyền máu là vấn đề hết sức quan trọng.
 
Để bảo đảm an toàn truyền máu bằng rút ngắn giai đoạn cửa sổ, từ năm 2014, Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương là đơn vị đầu tiên của cả nước triển khai thành công kỹ thuật NAT trong xét nghiệm sàng lọc máu. Kỹ thuật NAT phát hiện dựa trên nguyên tắc nhân bản gen đích. Kỹ thuật này có độ nhạy cao cho phép phát hiện và nhân bản đặc hiệu theo hàm mũ các trình tự đích của tác nhân gây bệnh từ một lượng nhỏ vi rút. Do đó, cho phép phát hiện sớm và chính xác các tác nhân gây bệnh. NAT là kỹ thuật tiên tiến nhất hiện nay, mở ra kỷ nguyên mới bảo đảm an toàn truyền máu, cung cấp nguồn máu an toàn, kịp thời với việc thực hiện trên máy xét nghiệm sinh học phân tử hoàn toàn tự động sàng lọc vi rút viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và HIV cho độ chính xác, độ nhạy cao. Kỹ thuật này đem lại hiệu quả rõ rệt trong việc rút ngắn thời gian cửa sổ phát hiện các vi rút.
 
Theo Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, hiện nay, tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng chiếm khoảng 0,25%, HBV và HCV chiếm 2,5 đến 25% thì kỹ thuật này đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Đáng chú ý, kỹ thuật NAT có thể được sử dụng để phát hiện đồng thời HIV, HBV và HCV thông qua một xét nghiệm trong thời gian bốn đến năm giờ, bảo đảm an toàn cho đơn vị máu truyền.
 
Kỹ thuật xét nghiệm NAT có ưu điểm nổi bật là độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao, do phát hiện trực tiếp ADN hoặc ARN của vi rút; xác định axít nucleic của virút theo các trình tự đặc hiệu; giúp phát hiện vi rút ở giai đoạn cửa sổ từ lúc phơi. Theo các nghiên cứu trên thế giới, so với xét nghiệm sàng lọc huyết thanh, kỹ thuật NAT giúp rút ngắn giai đoạn cửa sổ từ 82 xuống 23 ngày đối với vi rút HCV; từ 59 xuống 34 ngày đối với vi rút HBV và từ 21 xuống 11 ngày đối với vi rút HIV. Ngoài ra, trước đây, các máy móc thông thường chỉ xét nghiệm được 120 mẫu với thời gian sáu tiếng, thì một lần xét nghiệm NAT đã được 520 mẫu, thời gian chỉ mất ba đến bốn tiếng.
 
Việc áp dụng thành công kỹ thuật xét nghiệm NAT đánh dấu một bước tiến mới trong việc bảo đảm an toàn truyền máu cho người bệnh bằng việc rút ngắn thời gian phát hiện vi rút gây bệnh có trong máu. Trung bình, cứ mỗi người hiến máu sẽ có từ một đến bốn người nhận, trong khi, mỗi ngày Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương cung cấp khoảng 1.000 đơn vị máu cho điều trị. Đặc biệt, riêng nhóm máu O phải cần tối thiểu gần 700 đơn vị máu mỗi ngày bởi lẽ tại Việt Nam, gần 50% dân số có nhóm máu O nên số lượng bệnh nhân cần truyền máu nhóm O luôn cao hơn so với các nhóm máu khác. Vì vậy, nếu không sàng lọc máu hoặc sàng lọc không an toàn, nguy cơ lây truyền bệnh rất lớn.
 
Lam Dương

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Theo bạn, giao diện Cổng thông tin điện tử của Sở Y tế Hà Nội?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập164
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm163
  • Hôm nay13,052
  • Tháng hiện tại203,650
  • Tổng lượt truy cập5,378,308
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây