Phát huy các nguồn lực xã hội trong công tác phòng, chống mù lòa tại Việt Nam

Thứ ba - 06/11/2018 21:51
Trong nhiều năm qua, mặc dù ngành mắt Việt Nam đã nỗ lực rất lớn song công tác phòng chống mù lòa (PCML) còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhất là trong bối cảnh nhiều bệnh lý về mắt có xu hướng phức tạp, đồng thời ý thức tự chăm sóc và bảo vệ đôi mắt trong cộng đồng hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế.
nh An 6 11 2018 DSC 39066
 Người dân cần chủ động đi khám mắt định kỳ để phòng, chống các bệnh lý về mắt.
 
Có khoảng 2 triệu người mù và thị lực kém
 
Theo Bệnh viện Mắt Trung ương năm 2015, tỷ lệ mù lòa toàn quốc là 1,8% dân số, giảm đáng kể so với năm  2007 - 2008 (3,1%) và so với năm 2000 - 2002 (4,1%). Số lượng người mù ước tính ở Việt Nam cũng giảm từ 443.706 người năm 2000 xuống 370.640 người năm 2007 và 329.333 người năm 2015. Tuy nhiên, tỷ lệ giảm trong giai đoạn 2007 - 2015 ít hơn so với giai đoạn 2000 - 2007. Bên cạnh đó, số lượng người trên 50 tuổi với thị lực kém 2 mắt năm 2007 là 1,6 triệu người, đã tăng lên 2,1 triệu người so với năm 2015.
 
Việt Nam hiện có khoảng 2 triệu người mù và thị lực kém. Trên 80% tỷ lệ người mù ở Việt Nam có thể phòng, chữa được. Các nguyên nhân gây mù chính hiện nay qua điều tra cho thấy, đục thủy tinh thể vẫn là nguyên nhân chủ yếu (chiếm 66,1%), tiếp đó là các bệnh lý: đáy mắt, glôcôm, tật khúc xạ... Đáng chú ý, tật khúc xạ (cận thị, viễn thị, loạn thị) đang ngày càng phổ biến trong thanh thiếu niên, với tỷ lệ mắc khoảng 15 - 20% ở học sinh nông thôn, 30 - 40% ở thành phố. Nếu tính riêng nhóm trẻ từ 6 - 15 tuổi (lứa tuổi cần ưu tiên được chỉnh kính), cả nước có gần 15 triệu em, với tỷ lệ mắc các tật khúc xạ khoảng 20%, Việt Nam ước tính gần 3 triệu em mắc tật khúc xạ cần chỉnh kính, trong đó 2/3 bị cận thị. Việc khám và cấp kính cho trẻ em mắc tật khúc xạ là một trong những biện pháp can thiệp rẻ tiền và hiệu quả nhất để giảm tỷ lệ mù lòa. Tuy nhiên khi triển khai các chương trình ở cộng đồng gặp nhiều rào cản từ nhận thức, cơ sở vật chất và kinh phí để duy trì và thực hiện chỉnh kính cho các em học sinh.
 
Phân bố không đồng đều số lượng bác sĩ chuyên ngành mắt
 
Một trong những khó khăn của người mù là nghèo không có tiền phẫu thuật, người nghèo chấp nhận bị mù, bên cạnh đó là các điều kiện khác như thiếu kiến thức về phòng và chữa bệnh mắt, việc không biết bệnh mắt của mình có thể chữa được chiếm tới 1/3 trong số người mù và người thị lực kém. Mặc dù hàng năm, ngành mắt đã phẫu thuật điều trị giải phóng mù lòa mang lại ánh sáng cho hàng trăm nghìn người, tuy nhiên chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.
 
Hiện cả nước có khoảng 1.600 bác sĩ nhãn khoa hoạt động trong các bệnh viện công và tư (trong đó, khoảng 1/3 số người có thể mổ được đục thể thủy tinh) chiếm tỷ lệ 18,1 người/1 triệu dân và khoảng 2.000 y sĩ, y tá nhãn khoa trong cả nước, chiếm tỷ lệ 22,6 người/1 triệu dân. Số lượng bác sĩ trên tỷ lệ dân số như vậy là tương đối đủ so với nhu cầu nhưng việc phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở thành phố và đồng bằng là thách thức lớn trong việc chăm sóc mắt cho người dân ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Nhiều tỉnh chưa đủ số bác sĩ và phẫu thuật viên, thậm chí có những vùng không có bác sĩ chuyên ngành mắt.
 
PGS.TS Nguyễn Xuân Hiệp - Giám đốc Bệnh viện Mắt Trung ương, Phó trưởng Ban chỉ đạo Phòng, chống mù lòa quốc gia, Bộ Y tế cho biết, việc thiếu nhân lực ở tuyến cơ sở, thiếu trang thiết bị nhãn khoa, kéo theo thiếu các dịch vụ nhãn khoa, không đáp ứng được các chương trình chăm sóc mắt cộng đồng nên người dân khó tiếp cận các dịch vụ chăm sóc mắt, phải dồn lên các cơ sở tuyến trên, dẫn đến tình trạng quá tải bệnh viện. Các chương trình phòng, chống mù lòa hiện mới dừng lại ở các đợt khám, phẫu thuật lưu động và các hoạt động truyền thông chăm sóc mắt. Đặc biệt, sự chủ quan và tùy tiện tra nhỏ thuốc của người bệnh hay những quan niệm sai về việc trì hoãn đeo kính khi mắc tật khúc xạ, không thăm khám mắt định kỳ, tự ý chữa mắt theo các phương pháp và quan niệm dân gian... Việc kiểm tra mắt định kỳ sẽ giúp phát hiện sớm bệnh và các tật ở mắt để có phương pháp điều trị thích hợp, kịp thời. Tránh tình trạng khi bệnh nặng mới đến các cơ sở y tế thì việc điều trị sẽ hạn chế rất nhiều.
 
Phòng chống mù lòa là trách nhiệm của toàn xã hội
 
Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược quốc gia Phòng, chống mù lòa giai đoạn 2020 và tầm nhìn 2030, với mục tiêu chung tăng cường cơ hội tiếp cận của người dân với dịch vụ dự phòng, phát hiện sớm, điều trị và phục hồi chức năng mắt, giảm tỷ lệ các bệnh mù lòa có thể phòng chống được, phấn đấu nhằm loại trừ các nguyên nhân chính gây mù lòa cho mọi người dân, đặc biệt hàng triệu người mù có quyền được nhìn thấy như khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về mục tiêu thị giác 2020.

Theo đó, mục tiêu cụ thể năm 2020, Việt Nam phấn đấu giảm tỷ lệ mù lòa xuống dưới 4,5 người/1.000 dân, trong đó giảm tỷ lệ mù lòa ở người trên 50 tuổi xuống dưới 16 người/1.000 dân; tăng tỷ lệ phẫu thuật đục thủy tinh thể trên 2,5 người/1.000 dân; tăng tỷ lệ người bệnh đái tháo đường được khám và theo dõi bệnh lý về mắt đạt 45%; tăng tỷ lệ tật khúc xạ học đường được khám, phát hiện sớm, cung cấp dịch vụ khúc xạ và chỉnh kính tật khúc xạ đạt trên 70%. Bên cạnh đó, thực hiện đồng bộ các giải pháp: nâng cao nhận thức cộng đồng và củng cố mạng lưới về chăm sóc mắt; xây dựng và hoàn thiện các chính sách phòng, chống mù lòa; kiểm soát các nguyên nhân chính gây mù lòa; tăng cường chuyển giao kỹ thuật, nâng cao năng lực chuyên môn cho các tuyến dưới; hợp tác quốc tế.
 
Tuy nhiên, công tác Phòng, chống mù lòa là trách nhiệm của toàn xã hội, không chỉ riêng ngành mắt, đòi hỏi nhận thức và quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự chủ động phối hợp của các tổ chức đoàn thể đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân dưới nhiều hình thức đa dạng và quy mô hơn.
 
PGS.TS Nguyễn Xuân Hiệp chia sẻ, hiện ngành mắt đang phát triển và củng cố mạng lưới và hệ thống chăm sóc mắt cơ sở, mục tiêu đưa các dịch vụ nhãn khoa đến gần hơn với người dân, đặc biệt là ở những vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, thực hiện các giải pháp về chuyên môn kỹ thuật. Đào tạo cán bộ nhãn khoa, phẫu thuật viên. Tích cực chuyển giao khoa học kỹ thuật cho tuyến dưới. Tham mưu đề xuất với Bộ Y tế, Chính phủ ban hành những chính sách, các giải pháp thực hiện, huy động các nguồn lực xã hội, tăng cường và đầu tư trang thiết bị nhãn khoa cho các tuyến, đặc biệt là tuyến huyện và các bệnh viện khu vực.
 
Việt Nam

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Tin mới
Thống kê
  • Đang truy cập15
  • Hôm nay11,276
  • Tháng hiện tại160,952
  • Tổng lượt truy cập4,458,319
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây