Điểm báo ngày 1/3/2019

 
Trạm y tế xã cần đủ năng lực giảm tải cho tuyến trên
 
Hiện cả nước có 11.083 trạm y tế xã với 49.544 giường; 87,5% số trạm có bác sĩ khám, chữa bệnh; 96% số trạm có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi; trên 80% trạm y tế xã thực hiện khám chữa bệnh BHYT.

Bình quân các trạm y tế xã mới chỉ thực hiện được 50-70% các dịch vụ kỹ thuật, nhiều trạm chỉ được cung ứng khoảng 40% số thuốc thuộc gói dịch vụ y tế cơ bản và số lượng cũng rất hạn chế...

Nâng chất

Nâng cao chất lượng trạm y tế xã, phường hoạt động theo nguyên lý y học gia đình đang được Bộ Y tế tích cực triển khai, hy vọng sẽ là “đòn bẩy” kích cầu chất lượng cho tuyến y tế gần dân nhất này. Theo Bộ Y tế, mô hình trạm y tế theo nguyên lý y học gia đình là cần thiết, bởi có đến 70% dân số sống ở nông thôn, trong đó có 10% là người cao tuổi. Trạm y tế sẽ là nơi gần nhất, tốt nhất để người dân tiếp cận. Do đó, mục tiêu trọng tâm là ưu tiên cho quản lý các bệnh không lây nhiễm là tăng huyết áp và đái tháo đường tại trạm y tế xã.

Y tế cơ sở là nơi dễ tiếp cận với chi phí thấp, công bằng xã hội, giảm quá tải bệnh viện tuyến trên. Chính vì thế việc triển khai trạm y tế xã phường hoạt động theo nguyên lý y học gia đình với 6 nguyên tắc là: liên tục - toàn diện - lồng ghép - phối hợp - dự phòng - gia đình - cộng đồng sẽ giúp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân một cách hiệu quả.

Nước ta đã xây dựng được 11.400 trạm y tế với gần 50.000 giường bệnh ở tất cả các xã trên toàn quốc để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, nhưng hơn 10% số trạm y tế ấy hiện vẫn không có bác sĩ. Bộ Y tế trong nhiều năm qua đã triển khai phấn đấu nâng tỷ lệ trạm y tế xã có bác sĩ lên 85%.

Đào tạo gắn với thực tiễn

Trước sự thiếu hụt nguồn nhân lực có chuyên môn cao tại y tế cơ sở, việc bức thiết đòi hỏi ngành y tế phải thực hiện là luân chuyển cán bộ từ tuyến trên xuống tuyến dưới, thực hiện khóa đào tạo ngắn hạn cho cán bộ tuyến dưới nắm vững nguyên lý y học gia đình trong quản lý, chăm sóc sức khỏe ban đầu tại địa phương. Trong đề án thí điểm xây dựng 26 trạm y tế xã điểm tại 8 tỉnh, thành, để giải quyết tạm thời tình trạng thiếu bác sĩ, Bộ Y tế đã điều động bác sĩ đến làm việc 2-3 ngày/tuần tại 8 trạm còn đang thiếu bác sĩ trong số 26 trạm.

Bộ Y tế đã tổ chức nhiều chương trình đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ y tế cơ sở. Đồng thời, ngành cũng đưa giảng viên về các huyện đào tạo cho đội ngũ cán bộ y tế cơ sở thay vì phải lên tuyến trên với nhiều chương trình đào tạo khác nhau; thực hiện việc luân chuyển để đưa cán bộ y tế cơ sở vào bệnh viện tuyến trên, qua đó nâng cao kỹ năng lâm sàng lẫn năng lực thực hành.

Thực trạng quản lý bệnh không lây nhiễm tại trạm y tế xã theo nguyên lý y học gia đình vẫn còn khoảng trống quản lý điều trị rất lớn. Đề án của Bộ Y tế lập 26 trạm y tế điểm tại 8 tỉnh, thành là để các địa phương học tập theo. Nhưng thực tế, hiện nay, các trạm y tế xã mới quản lý được 13,6% người bệnh tăng huyết áp; 28,9% người bệnh đái tháo đường. Như vậy, có tới 86,4% người tăng huyết áp chưa được điều trị; 56,9% người không được phát hiện. Tỷ lệ này với bệnh đái tháo đường cũng cao với 68,9% số người không được phát hiện và 71,1% chưa được điều trị.

Thực tiễn cho thấy, chất lượng, hiệu quả hoạt động của nhiều trạm y tế chưa cao, nhiều trạm mới chỉ làm tốt công tác TCMR, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, chưa triển khai các hoạt động truyền thông, giáo dục, vệ sinh môi trường, nước sạch để nâng cao sức khỏe nhân dân, vì lẽ đó, với mục tiêu nâng cao sức khỏe nhân dân và nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới y tế cơ sở, đang được Bộ Y tế tích cực thực hiện đồng bộ, để trạm y tế xã đủ năng lực khám chữa bệnh và giảm tải cho tuyến trên.
 
(Báo Sức khỏe và đời sống)
 
Yêu cầu đối với cơ sở đào tạo chuyên khoa trong lĩnh vực sức khỏe
 
Tại dự thảo Nghị định quy định về đào tạo chuyên khoa trong lĩnh vực sức khỏe, Bộ Y tế đã đề xuất yêu cầu đối với cơ sở đào tạo chuyên khoa trong lĩnh vực sức khỏe.

Theo dự thảo, cơ sở đào tạo là đại học, trường đại học, học viện đăng ký đào tạo chuyên khoa, chuyên khoa sâu phải đáp ứng đủ các yêu cầu sau: Đã được giao nhiệm vụ và đáp ứng đủ các điều kiện, yêu cầu đào tạo trình độ đại học ngành tương ứng theo đúng quy định hiện hành. Đã có ít nhất 1 khóa sinh viên trình độ đại học ngành tương ứng tốt nghiệp. Có ít nhất 5 giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động trình độ chuyên khoa cấp II sau đại học hoặc tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư đã được cấp chứng chỉ hành nghề (đối với những ngành có yêu cầu cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh), có ít nhất 5 năm kinh nghiệm phù hợp với ngành/chuyên ngành đào tạo và đang làm việc thường xuyên tại cơ sở thực hành của cơ sở đào tạo; các giảng viên cơ hữu nói trên không trong danh sách giảng viên để đăng ký mở ngành đào tạo ở các ngành/chuyên ngành, trình độ và loại hình đào tạo khác của cơ sở đào tạo. Có cơ sở thực hành để thực hiện toàn bộ chương trình đào tạo và đáp ứng đủ các yêu cầu theo quy định hiện hành.

Với các ngành/chuyên ngành chưa đào tạo chuyên khoa cấp II sau đại học, chưa có giảng viên có học hàm giáo sư, phó giáo sư, nếu chưa đủ số lượng giảng viên cơ hữu phù hợp trong độ tuổi lao động theo quy định trên thì có thể thay thế bằng chuyên khoa cấp II, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư của ngành gần. Các giảng viên của ngành gần này phải có kinh nghiệm giảng dạy trình độ sau đại học ít nhất 5 năm và có ít nhất 2 công trình khoa học thuộc lĩnh vực ngành đăng ký đào tạo đã công bố trong 5 năm tính đến ngày cơ sở đào tạo đăng ký mở ngành đào tạo. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết về danh mục các ngành gần của các ngành/chuyên ngành đào tạo chuyên khoa và công trình khoa học theo quy định trên.

Cơ sở đào tạo là bệnh viện hạng đặc biệt, viện/bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối đăng ký đào tạo chuyên khoa, chuyên khoa sâu phải đáp ứng đủ các yêu cầu sau: Là cơ sở thực hành của cơ sở đào tạo đã được giao nhiệm vụ đào tạo chuyên khoa, chuyên khoa sâu cùng ngành/chuyên ngành đăng ký đào tạo đáp ứng đủ yêu cầu quy định tại Khoản 2, Điều 10, Nghị định số 111/2017/NĐ-CP ngày 5/10/2017 của Chính phủ quy định về tổ chức đào tạo thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe với ngành tương ứng. Có ít nhất 5 cán bộ cơ hữu trong độ tuổi lao động có trình độ chuyên khoa cấp II hoặc tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư đã được cấp chứng chỉ hành nghề và có ít nhất 5 năm kinh nghiệm phù hợp với ngành/chuyên ngành đào tạo, đang làm việc thường xuyên tại bệnh viện; các giảng viên cơ hữu nói trên không trong danh sách giảng viên để đăng ký mở ngành đào tạo ở các ngành/chuyên ngành, trình độ và loại hình đào tạo khác của cơ sở đào tạo. Có các khoa, phòng, đơn vị chuyên môn bảo đảm thực hiện 100% chương trình thuộc khối kiến thức ngành/chuyên ngành của chương trình đào tạo. Có hợp đồng với ít nhất 1 cơ sở đào tạo đang đào tạo chuyên khoa, chuyên khoa sâu để bảo đảm thực hiện các môn học/học phần thuộc khối kiến thức cơ sở, hỗ trợ trong trường hợp bệnh viện, viện không có đủ người đáp ứng điều kiện để giảng dạy các môn học/học phần đó.

Cơ sở đào tạo là các Viện tuyến Trung ương thuộc lĩnh vực Y tế dự phòng và Y tế công cộng đăng ký đào tạo chuyên khoa phải đáp ứng đủ các yêu cầu sau: Là cơ sở thực hành của cơ sở đào tạo đã được giao nhiệm vụ đào tạo chuyên khoa, chuyên khoa sâu cùng ngành/chuyên ngành đăng ký đào tạo đáp ứng đủ yêu cầu quy định tại Nghị định số 111/2017/NĐ-CP. Có ít nhất 5 cán bộ cơ hữu trong độ tuổi lao động trình độ chuyên khoa cấp II sau đại học hoặc tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư có ít nhất 5 năm kinh nghiệm phù hợp với ngành/chuyên ngành đào tạo, đang làm việc thường xuyên tại viện; các giảng viên cơ hữu nói trên không trong danh sách giảng viên để đăng ký mở ngành đào tạo ở các ngành/chuyên ngành, trình độ và loại hình đào tạo khác của cơ sở đào tạo. Có các khoa, phòng, đơn vị chuyên môn đảm bảo thực hiện 100% chương trình thuộc khối kiến thức ngành/chuyên ngành của chương trình đào tạo. Có hợp đồng với ít nhất 1 cơ sở đào tạo đang đào tạo chuyên khoa, chuyên khoa sâu để bảo đảm thực hiện các môn học/học phần thuộc khối kiến thức cơ sở, hỗ trợ trong trường hợp viện không có đủ người đáp ứng điều kiện để giảng dạy các môn học/học phần đó.
 
(Báo Chính phủ)
Khoa Truyền thông giáo dục sức khỏe
 
 
 
Thăm dò ý kiến

Theo bạn, giao diện Cổng thông tin điện tử của Sở Y tế Hà Nội?

Liên kết
Thống kê
  • Đang truy cập52
  • Hôm nay8,454
  • Tháng hiện tại261,685
  • Tổng lượt truy cập6,390,583
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây