Điểm báo ngày 11/1/2019


Quyết liệt thực hiện quản lý chất lượng bệnh viện, giảm sự cố y khoa
 
Nếu quản lý tốt chất lượng bệnh viện sẽ hạn chế được tối đa các sự cố y khoa. Với việc đổi mới từ cách nghĩ, cách làm đến cách kiểm tra với phương châm “lấy người bệnh làm trung tâm phục vụ”, trong 5 năm trở lại đây, chất lượng bệnh viện đã có những cải tiến vượt bậc, tạo được niềm tin nơi người bệnh.
 
Tại Diễn đàn “Quản lý chất lượng và an toàn người bệnh”, do Bệnh viện Đa khoa Đức Giang phối hợp với Trung tâm Quốc gia về Y tế và Sức khoẻ toàn cầu Nhật Bản (NCGM) tổ chức ngày 10/1, ông Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh (Bộ Y tế) cho biết, chất lượng bệnh viện và sự an toàn trong y tế là vấn đề được quan tâm hàng đầu của ngành Y tế và của toàn xã hội.
“Nếu quản lý tốt chất lượng bệnh viện sẽ hạn chế được tối đa các sự cố y khoa. Với việc đổi mới từ cách nghĩ, cách làm đến cách kiểm tra với phương châm “lấy người bệnh làm trung tâm phục vụ”, trong 5 năm trở lại đây, chất lượng bệnh viện đã có những cải tiến vượt bậc, tạo được niềm tin nơi người bệnh”- ông Khoa nhấn mạnh.
Từ Diễn đàn chất lượng Quốc gia lần thứ I năm 2013 đến lần thứ IV năm 2018 đã ghi nhận những nỗ lực trong cải tiến, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. “Cải tiến chất lượng bệnh viện đã trở thành một phong trào và là động lực để các bệnh viện thực hiện hướng đến sự hài lòng của người bệnh”, ông Nguyễn Trọng Khoa nhấn mạnh.
 
Theo ông Nguyễn Văn Thường - Giám đốc Bệnh viện đa khoa Đức Giang cho hay, chất lượng bệnh viện không tự có mà phải có một quá trình phấn đấu, lao động và sáng tạo có mục đích, thực hiện một cách kỹ lưỡng và tận tâm.
 
Từ thực tiễn hoạt động của bệnh mình, giám đốc Bệnh viện đa khoa Đức Giang cho rằng, chất lượng dịch vụ y tế luôn biến đổi theo thời gian, theo xu hướng ngày càng đòi hỏi cao hơn do nhu cầu phát triển của xã hội. Chất lượng của việc thực hành y học chứng cứ không những lệ thuộc vào khả năng truy cập, tìm kiếm những bằng chứng tốt nhất hiện có mà còn phụ thuộc vào kỹ năng thực hành của người chăm sóc, những điều kiện vật chất hiện có để chuyển bằng chứng thực tiễn.
 
“Do đó, việc triển khai các hoạt động quản lý và cải tiến chất lượng là rất cần thiết nhằm  ổn định và từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ”- ông Nguyễn Văn Thường nói.
 
Cũng tại diễn đàn, các đại biểu đã chia sẻ khó khăn trong việc triển khai hệ thống báo cáo sự cố y khoa, xảy ra trong quá trình điều trị. Chẳng hạn như tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, trong 2 năm 2017-2018 đã nhận được 398 báo cáo sự cố y khoa, trong đó có 28 sự cố ngoài chuyên môn, còn lại 370 sự cố liên quan đến chuyên môn.
 
Tuy nhiên, một số nhân viên chưa hiểu rõ về sự cố y khoa, trong khi các trưởng khoa mặc định điều dưỡng phải có trách nhiệm báo cáo sự cố. Mặt khác, việc phân tích nguyên nhân gốc rễ của các sự cố y khoa và đưa ra giải pháp thực hiện chưa thực sự hiệu quả.
 
Trước thực tế trên, các bác sĩ đến từ nhiều bệnh viện trên cả nước chia sẻ những kinh nghiệm trong quản lý sự cố y khoa như: Xây dựng phần mềm báo cáo sự cố y khoa; xây dựng văn hoá an toàn, tự giác báo cáo sự cố, xem sự cố của người này là bài học cho người khác và cho chính bản thân mình; tập huấn kiểm soát nhiễm khuẩn; tập huấn xử trí cấp cứu sốc phản vệ…
 
(Báo Sức khỏe và đời sống)
 
Bộ trưởng Y tế: Xây dựng các Trung tâm y tế chuyên sâu hút bệnh nhân nước ngoài
 
Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, xây dựng các trung tâm y tế chuyên sâu ở các trung tâm hành chính lớn, các khu du lịch trọng điểm là một trong 3 định hướng quan trọng để thu hút người bệnh có đòi hỏi cao, người nước ngoài đến Việt Nam chữa bệnh.
 
Với tư cách người đứng đầu ngành y tế, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến khẳng định khoa học và công nghệ luôn đóng vai trò là động lực cho sự phát triển ngành Y tế Việt Nam.
 
“Các nhà khoa học kiêm thầy thuốc luôn chủ động, sáng tạo áp dụng các tri thức, làm chủ công nghệ tiên tiến trong chẩn đoán và điều trị hiệu quả nhiều bệnh lý khó được quốc tế công nhận và tiếp nhận hàng nghìn bác sĩ đến học. Chẳng hạn như kỹ thuật thông tin thăm dò huyết động và can thiệp bệnh lý tim mạch, kỹ thuật can thiệp lòng mạch điều trị bệnh lý mạch máu não và tủy, can thiệp bệnh mạch vành cấp cứu (Viện Tim mạch Quốc gia, Bệnh viện Đại học Y Dược Hồ Chí Minh, Bệnh viện Nhân dân Gia Định), kỹ thuật nội soi điều trị bệnh tuyến giáp (Bệnh viện Nội tiết Trung ương), phẫu thuật nội soi u nang ống mật chủ và thoát vị cơ hoành bẩm sinh (Bệnh viện Nhi Trung ương)...”- Bộ trưởng cho hay.
 
Theo Bộ Y tế, hiện nay các trung tâm y tế chuyên sâu đang được triển khai hiệu quả ở Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh với việc mở rộng các chuyên khoa đầu ngành để chuyển giao kỹ thuật theo chuyên ngành. Nhờ đó nhiều kỹ thuật về chẩn đoán, phẫu thuật và điều trị ngang tầm với các nước trong khu vực như thụ tinh trong ống nghiệm, ghép tạng, trong đó đã ghép tim thành công.
 
Cho đến nay, hệ thống y tế nước ta đã có 15 cơ sở ghép được tim, thận, gan, tim, ghép giác mạc, ghép tế bào gốc tạo máu… Đến nay đã có khoảng trên 300 bệnh nhân được ghép thận, trong đó có 07 trường hợp lấy thận từ người chết não.
 
Cùng với việc hình thành và phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu là khánh thành đưa vào sử dụng, khởi công nhiều công trình y tế hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của người dân. Ngành Y tế đã khởi công một số cơ sở khám chữa bệnh tại Trung ương như: Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện chấn thương chỉnh hình 175, Bệnh viện Nhi đồng TP Hồ Chí Minh, Bệnh viện Nhi Hà Nội.
 
Khánh thành và đưa vào sử dụng nhiều cơ sở khám và điều trị của các bệnh viện trung ương và tuyến tỉnh: Bệnh viện Lão khóa, Bệnh viện Nội tiết và hàng loạt các bệnh viện địa phương; Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị, Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Bắc Ninh, Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu, Bệnh viện Đa khoa Bà Rịa, Bệnh viện Thống Nhất Đồng Nai, Bệnh viện Đa khoa Nghệ An.
 
Chuyển giao nhiều kỹ thuật cao ở tuyến cơ sở
 
Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, với quan điểm “Các công nghệ, kỹ thuật mới, tiên tiến được triển khai ở nước ta phải có giá trị khoa học, hiệu quả kinh tế, ý nghĩa xã hội, trực tiếp phục vụ nhu cầu thực tiễn phát triển ngành y tế”, Bộ Y tế ưu tiên lựa chọn công nghệ, kỹ thuật ứng dụng trong ngành y tế luôn lấy thước đo là bảo đảm tính khách quan về khoa học; chọn đúng công nghệ, kỹ thuật ưu tiên, phục vụ cho số đông dân số, thực hiện với kinh phí phù hợp nhất.
 
Năm 2018, ghi nhận nhiều kỹ thuật cao trong y tế được ứng dụng trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân không những ở các bệnh viện tuyến Trung ương, mà đã được chuyển giao thành công, nhiều kỹ thuật thành thường quy ở bệnh viện tuyến tỉnh, khu vực. Từ các kỹ thuật trong sàng lọc, phát hiện sớm, nhanh và chính xác phục vụ chẩn đoán tác nhân gây bệnh, đến các kỹ thuật can thiệp mạch, cấy ghép mô - bộ phận cơ thể người, hỗ trợ sinh sản, phẫu thuật nội soi, hồi sức cấp cứu.
 
Thành công của các kỹ thuật cao ứng dụng trong hệ thống y tế Việt Nam được cộng đồng thế giới ghi nhận và đánh giá cao.
 
Để thu hút người bệnh có đòi hỏi cao, người nước ngoài đến Việt Nam chữa bệnh, Bộ Y tế sẽ thực hiện 3 định hướng:
 
Thứ nhất là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đổi mới phong cách ứng xử trong cán bộ công chức viên chức ngành y tế;
 
Thứ hai là đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cao chất lượng hạ tầng cơ sở khám chữa bệnh (đặc biệt là dịch vụ chăm sóc, dịch vụ tư vấn, dịch vụ hỗ trợ thông tin cho người bệnh và người nhà,..);
 
Thứ ba là xây dựng các trung tâm y tế chuyên sâu ở các trung tâm hành chính lớn, các khu du lịch trọng điểm.
 
(Báo Sức khỏe và đời sống)
 
Bệnh sởi có nguy cơ lan rộng
 
Theo TS Đỗ Duy Cường - Trưởng khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Bạch Mai, bệnh sởi dễ lây qua đường hô hấp nhưng lành tính. Tuy nhiên, trong điều kiện thời tiết giao mùa, bệnh có khả năng bùng phát thành dịch, kết hợp với các bệnh khác tạo thành biến chứng nặng, có thể gây tử vong ở trẻ em.
 
Nguy cơ bùng phát dịch bệnh
 
Khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Bạch Mai, sáng 10/1, đang điều trị cho 6 bệnh nhân mắc sởi. Các bệnh nhân này đều là nữ, đang có thai, phát ban sởi trong một đến hai ngày gần đây. Các bệnh nhân mắc sởi đều do không tiêm phòng. Khi được hỏi lý do, chị P.T.H. (37 tuổi, quê ở Sơn Tây) cho biết, do công việc bận rộn và sổ theo dõi tiêm chủng đã bị thất lạc, vì vậy chị không biết liệu bản thân đã được tiêm mũi vaccine phòng sởi hay chưa. Chị B.H.V. (36 tuổi, trú tại phố Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân) cũng không còn nhớ hay biết rõ về số mũi đã tiêm phòng. Đang mang thai chưa đầy 36 tuần, chị mắc sởi, đến điều trị tại bệnh viện mới hiểu được tầm quan trọng của việc tiêm phòng.
 
TS Đỗ Duy Cường cho biết, sở dĩ các trường hợp bệnh nhân nằm tại khoa đa số là nữ và đang mang thai là bởi bệnh sởi gây sốt rất cao, mẹ có nguy cơ suy giảm hệ miễn dịch dẫn tới bội nhiễm (ngoài bệnh sởi, người bệnh còn nhiễm thêm một hay nhiều vi trùng, vi khuẩn hay virus khác gây thêm bệnh), khả năng sinh non cao. Vì vậy, bắt buộc phải điều trị nội trú để kịp thời xử trí các biến chứng có thể xảy ra.
 
Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu đến từ cộng đồng, người này lây bệnh cho người kia, chẳng hạn như trường hợp của chị B.H.V. là kế toán tại Bệnh viện Việt Đức, chị mắc sởi do tiếp xúc với bệnh nhân.
 
Trong 3 tháng trở lại đây, tại Bệnh viện Bạch Mai ghi nhận có sự tăng lên của các ca mắc sởi ở người lớn. Nếu trong năm 2018, số ca mắc bệnh rải rác từ đầu năm tới cuối năm chỉ rơi vào khoảng 50 trường hợp, trong 3 tháng trở lại đây, mỗi tháng số lượng bệnh nhân tăng từ 5 - 7 trường hợp, rải rác tại các địa bàn của Hà Nội và các tỉnh lân cận như Hà Nam, Hưng Yên, Bắc Giang, đối tượng mắc chủ yếu là nữ giới đang trong độ tuổi từ 25 - 40.
 
Tại Bệnh viện Nhi T.Ư cũng thường xuyên điều trị cho 20 trẻ mắc sởi mỗi ngày. Còn trên quy mô toàn quốc, số ca mắc bệnh trong năm 2018 rơi vào hơn 5.100 trường hợp, cao hơn rất nhiều so với năm 2017 (với hơn 300 trường hợp). Do đó, TS Đỗ Duy Cường cảnh báo nguy cơ bùng phát dịch sởi trong năm 2019 hoàn toàn có thể xảy ra.
 
Tiêm vaccine là cách tốt nhất để phòng bệnh
 
Theo TS Đỗ Duy Cường, sởi là căn bệnh lành tính. Nếu bệnh nhân mắc sởi, có thể chỉ cần điều trị tại tuyến cơ sở trong khoảng một tuần. “Nhưng nếu bệnh nhân mắc một căn bệnh khác rồi sau đó mắc sởi, hoặc mắc sởi sau đó bị bội nhiễm, nhất định phải được điều trị nội trú tại bệnh viện. Bởi căn bệnh kép sởi - bội nhiễm hoặc cũng mắc bệnh khác rất nguy hiểm, gây suy giảm hấp thu, giảm miễn dịch và có thể viêm não ở cả trẻ em và người lớn. Trong trường hợp bệnh biến chứng nặng có thể gây tử vong, và đây là nguyên nhân chính khiến nhiều trẻ tử vong trong vụ dịch sởi năm 2014” - TS Đỗ Duy Cường nói.
 
Hiện nay có tình trạng một số người coi thường bệnh sởi, khi mắc thì được chẩn đoán là sốt phát ban hoặc dị ứng. Một số người dân lại coi nhẹ việc tiêm phòng, hoặc khi mắc sởi, không thực hiện cách ly mà tiếp tục sinh hoạt, giao tiếp bình thường với người xung quanh. Một số lại nghiêm trọng hóa căn bệnh, khi mắc sởi thì đòi nằm viện. Môi trường bệnh viện làm bệnh nhân bị bội nhiễm, lây chéo khiến cho dịch sởi bùng phát khó kiểm soát.
 
TS Đỗ Duy Cường khuyến cáo, người dân hãy bình tĩnh khi mắc sởi, đưa bệnh nhân tới khám tại các cơ sở y tế để nắm được tình trạng bệnh. Nếu bệnh nhẹ, bệnh nhân có thể điều trị tại nhà theo chỉ dẫn của bác sĩ, đặc biệt chú ý cách ly để tránh lây bệnh. Nếu bệnh nhân đang mắc bệnh khác rồi sau đó mắc sởi, hoặc có cơ địa đặc biệt như người già hoặc phụ nữ có thai, bệnh nhân cần được đưa tới bệnh viện càng sớm càng tốt.
 
Cũng theo TS Cường, cách tốt nhất để phòng bệnh sởi là tiêm vaccine đầy đủ, đúng lịch. Người lớn chưa được tiêm vaccine này, cũng nên đến các điểm tiêm phòng để được tư vấn, tiêm chủng. Nhất là phụ nữ chuẩn bị mang thai, nếu được tiêm vaccine sởi sẽ tạo kháng thể cho mình và cho con.
 
(Báo Kinh tế và đô thị)
 
Dùng bia để giải độc rượu chỉ được áp dụng ở cơ sở y tế
 
Bệnh nhân ngộ độc rượu được cứu sống bằng cách truyền 5 lít bia khiến nhiều người xôn xao. Tuy nhiên, chuyên gia khẳng định phương pháp này chỉ được thực hiện ở cơ sở y tế, người dân tuyệt đối không tự ý truyền bia giải độc rượu.
 
Vụ việc xảy ra vào ngày 25/12/2018, khi bệnh nhân Nguyễn Văn Nhật (48 tuổi, Triệu Phong, Quảng Trị) được đưa vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị trong tình trạng ngộ độc rượu đến hôn mê và rất nguy kịch. Để cứu nạn nhân qua cơn nguy hiểm, bác sỹ Lê Văn Lâm, Trưởng khoa Hồi sức tích cực, Chống độc của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị đã cho truyền dần dần vào cơ thể bệnh nhân tất cả 15 lon bia.
 
Trước thông tin trên, dư luận hoài nghi, hoang mang, liệu biện pháp này có đảm bảo tính khoa học? Về vấn đề này đại diện Bộ Y tế cho biết, theo tài liệu Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí ngộ độc (Ban hành kèm theo Quyết định số 3610/QĐ-BYT ngày 31/8/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế), với bệnh nhân bị ngộ độc rượu methanol, thì thuốc giải độc đặc hiệu là Ethanol và fomepizole (4-methylpyrazole) vì ngăn cản việc methanol chuyển hóa thành các chất độc (axit formic và format), methanol tự do sẽ được đào thải khỏi cơ thể qua thận hoặc lọc máu. Khi ngừng các thuốc này hoặc dùng không đủ và bệnh nhân không được lọc máu, methanol tiếp tục chuyển hóa và gây độc.
 
Phác đồ điều trị của Bộ Y tế cũng lưu ý Ethanol hoặc fomedizole nên dùng ở các bệnh nhân sẽ và đang được lọc máu liên tục hoặc trong thời gian chờ đợi lọc máu thẩm tách, để ngăn chặn quá trình chuyển hóa gây độc tiếp diễn của methanol trong khi chưa được loại bỏ khỏi cơ thể.
 
Tuy Ethanol hiệu quả, rẻ tiền nhưng có một số tác dụng phụ (tác dụng trên thần kinh trung ương, hạ đường huyết, rối loạn nước điện giải. Chế phẩm ethanol tĩnh mạch dễ dùng cho bệnh nhân hơn, dễ theo dõi và điều chỉnh liều hơn ethanol đường uống. Còn Fomepizole hiệu quả, dễ dùng và theo dõi nhưng rất đắt tiền.
 
Phác đồ của Bộ Y tế cũng hướng dẫn cách dùng ethanol đường uống cho người ngộ độc rượu là loại ethanol sử dụng là loại rượu uống, sản phẩm đảm bảo an toàn và có ghi rõ độ cồn, pha thành rượu nồng độ 20% với liều ban đầu 800 mg/kg, uống có thể pha thêm đường hoặc nước quả, hoặc nhỏ giọt qua sonde dạ dày.
 
Theo bác sỹ Nguyễn Trung Nguyên, Phụ trách Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai, việc truyền bia để giải độc rượu đúng là một phương pháp chữa trị. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ được áp dụng tại các cơ sở y tế, do các bác sỹ có chuyên môn thực hiện. Việc lựa chọn phương pháp giải độc còn phải căn cứ vào nồng độ methanol gây ngộ độc trong cơ thể bệnh nhân. Vì vậy, người dân tuyệt đối không tự ý dùng bia để giải độc sau khi uống rượu.
 
Sở dĩ như vậy theo bác sỹ Nguyên, do tài liệu Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí ngộ độc của Bộ Y tế cũng quy định rất kỹ về liều dùng ethanol với từng bệnh nhân nghiện rượu hay không nghiện rượu, liều duy trì trong và sau khi lọc máu. Đồng thời bác sĩ phải theo dõi rất kỹ tình trạng bệnh nhân về tri giác, nôn, uống thuốc, tình trạng hô hấp, mạch, huyết áp, đường máu, điện giải máu. Bên cạnh đó còn phải có thuốc hỗ trợ để thúc đẩy quá trình giải độc của cơ thể.
 
Còn theo một chuyên gia cấp cứu chống độc tại Bệnh viện Nhi Trung ương, nếu bia được đưa vào cơ thể bằng "truyền tĩnh mạch" thì rất nguy hiểm, có thể tử vong. Nếu bệnh nhân ngộ độc ethanol (rượu thực phẩm bình thường) mà còn truyền thêm bia có nồng độ cồn 4-5% (tương tự pha loãng rượu-PV) thì không có hiệu quả.
 
(Báo Hải quan)
 
Cần quy chuẩn lại hệ thống sàng lọc sơ sinh
 
TS Vũ Trí Dũng, Giám đốc Trung tâm sàng lọc sơ sinh và quản lý bệnh hiếm, Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, có sáu bước để làm sàng lọc sơ sinh, nhưng hầu hết các cơ sở mới chỉ dừng lại ở các bước đầu tiên. Do đó, cần phải quy chuẩn lại hệ thống sàng lọc sơ sinh để giúp phát hiện và xử trí sớm những dị tật bẩm sinh, nâng cao chất lượng giống nòi.
 
Sáu bước của sàng lọc sơ sinh
 
Sáu bước của chương trình sàng lọc sơ sinh bao gồm sàng lọc, chẩn đoán, điều trị, quản lý bệnh nhân, đánh giá hiệu quả và đào tạo. Bước đầu tiên đang được triển khai trên diện rộng và làm rất tốt là làm sàng lọc, thu thập bệnh phẩm xét nghiệm. Tuy nhiên, các bước tiếp theo như theo dõi, thử lại các xét nghiệm, chẩn đoán, điều trị lâu dài, quản lý người bệnh, và đánh giá kết quả vẫn chưa được chú trọng. “Chỉ riêng Bệnh viện Nhi Trung ương đang thực hiện tốt cả sáu bước này”, BS Dũng cho hay.
 
Ngoài hai bệnh lý được làm sàng lọc sơ sinh giống như các cơ sở khác là suy giáp bẩm sinh và thiếu men G6PD, Bệnh viện Nhi Trung ương còn thực hiện nhiều xét nghiệm như tăng sản thượng thận bẩm sinh; thalassemia; 55 rối loạn chuyển hóa bẩm sinh acid hữu cơ, acid amin và acid béo; một số rối loạn chuyển hóa bẩm sinh dự trữ thể tiêu bào: Pompe; Gaucher; 10 thể bệnh MPSs; tim bẩm sinh; khiếm thính; suy giảm miễn dịch bẩm sinh.
 
BV Nhi Trung ương đang quản lý 1.407 bệnh nhân suy giáp bẩm sinh, trong đó phát hiện qua sàng lọc sơ sinh là 219 bệnh nhi, chiếm 15,6%. Có khoảng 1.047 bệnh nhân tăng sản thượng thận bẩm sinh được quản lý tại đây với trung bình 50-70 ca mới/năm.
 
Từ 2011 – 2018, BV Nhi Trung ương xét nghiệm cho 34.267 trẻ; chẩn đoán xác định được 7.118 trường hợp (20,8%) và đã thực hiện tư vấn để phòng tan máu cho bệnh nhi.
 
TS Dũng cho biết, riêng về sàng lọc sơ sinh mở rộng các rối loạn chuyển hóa bẩm sinh, BV Nhi Trung ương là nơi đầu tiên của cả nước sàng lọc nhóm bệnh này. Bệnh viện hiện là nơi duy nhất của cả nước có khả năng chẩn đoán xác định, điều trị lâu dài và theo dõi nhóm bệnh này. Đây là một nhóm các bệnh di truyền đơn gen, khoảng 1.000 bệnh, tỷ lệ mới mắc khoảng 1/1.000 trẻ đẻ sống. Các bệnh này chiếm khoảng 15-20% các trẻ sơ sinh được chẩn đoán nhầm là nhiễm trùng máu với các biểu hiện không đặc hiệu như nôn, kích thích, li bì, bú kém, bỏ bú, co giật, hôn mê rồi tử vong.
 
Trong 13 năm qua (11-2004 đến 12-2017), BV quản lý 4.174 trẻ nguy cơ cao và có triệu chứng nghi ngờ rối loạn chuyển hóa bẩm sinh. Riêng năm 2018, có 395 trẻ mắc 26 bệnh axit amin, axit hữu cơ và axit béo. “Nếu được phát hiện sớm qua sàng lọc sơ sinh và điều trị sớm sẽ tránh được tử vong và trẻ sẽ phát triển bình thường. Đến nay, tỷ lệ tử vong cơn cấp từ 52% năm 2005 đã giảm xuống còn 9,2% năm 2017”, TS Dũng nói.
 
Về thể bệnh dự trữ thể tiêu bào như bệnh pompe, BV sàng lọc trẻ có nguy cơ cao phát hiện 35 bệnh nhân trong ba năm qua, riêng năm 2018 là 18 bệnh nhân. Đây là bệnh di truyền gen lặn nhiễm sắc thể thường, thể nặng bao gồm các biểu hiện: cơ tim phì đại, giảm trương lực cơ, lưỡi dày, suy hô hấp và tử vong hầu hết trước 12 tháng tuổi nếu không được chẩn đoán sớm. Hiện 18 bệnh nhân được phát hiện năm 2018 đã được điều trị enzyme thay thế và 14 cháu có tiến triển tốt hơn, nhiều cháu có khả năng đi lại.
 
Việc quản lý bệnh thalassemia được thực hiện rất tốt với việc quản lý 170 bệnh nhân ở thể nặng tại đây. BV thực hiện chẩn đoán trước sinh cho 490 bà mẹ có nguy cơ sinh con mắc bệnh.
 
Quy chuẩn lại hệ thống sàng lọc sơ sinh
 
GS, TS Nguyễn Thanh Hải, Giám đốc BV Nhi Trung ương cho biết, việc đầu tư cho sàng lọc sáu phần rất tốn kém, vì thế các chế độ chính sách và xã hội chưa mặn mà. “Thực tế, nếu chúng ta làm sàng lọc sơ sinh tốt sẽ được lợi hơn rất nhiều, thực hiện được chủ trương chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, tạo ra chất lượng cuộc sống tốt hơn cho các bệnh nhi”, GS Hải nói.
 
Hiện nay, BHYT chỉ chi trả vài bệnh, còn lại gia đình người dân có nguyện vọng làm nhiều các loại sàng lọc sơ sinh sẽ phải đồng chi trả. GS, TS Nguyễn Thanh Hải cho rằng, cần có danh mục chi trả bảo hiểm cho một số bệnh phổ biến nhưng cần thiết như suy giáp bẩm sinh, tăng sản thượng thận bẩm sinh.
 
Đặc biệt, GS Hải cũng cho rằng, nhiều cơ sở làm sàng lọc sơ sinh chỉ thực hiện làm xét nghiệm ban đầu nên khó khẳng định được kết quả bất thường hay không, dẫn tới người dân phải trả hai lần tiền cho làm sàng lọc. Do đó, GS Hải cho rằng, cần phải quy chuẩn lại hệ thống sàng lọc sơ sinh.
 
“Đơn vị nào có khả năng về nguồn lực con người thì hỗ trợ thêm máy móc, thiết bị, đào tạo để có thêm nhiều trung tâm hoàn chỉnh”, GS Hải nhấn mạnh “phải có trung tâm điều phối cấp quốc gia về sàng lọc sơ sinh”. Bên cạnh đó, để thực hiện tốt công tác sàng lọc sơ sinh, cần thẩm định chất lượng dịch vụ sàng lọc và chương trình sàng lọc cho các đơn vị mới thành lập, trong đó lưu ý hoạt động phối hợp bảo đảm thực hiện đủ sáu thành phần của chương trình sàng lọc sơ sinh.
 
(Báo Nhân dân)
 
Phẫu thuật nội soi 3D lồng ngực mở u xơ lấy dị vật xương cá
 
Các bác sĩ Khoa Ngoại bụng 1, Bệnh viện K vừa thực hiện thành công ca phẫu thuật nội soi 3D lồng ngực cho nam bệnh nhân 31 tuổi, mở tổ chức viêm xơ ở thực quản lấy dị vật xương cá. Nếu không điều trị, phẫu thuật kịp thời, bệnh nhân có thể dẫn đến áp xe trung thất, thủng thực quản, thậm chí tử vong.
 
Có hiện tượng đau tức vùng ngực bụng trong hai tuần, kèm theo cảm giác chán ăn, khó tiêu, nuốt nghẹn thức ăn nhưng do chủ quan nên không đi khám, cho đến khi các triệu chứng đó ngày càng nhiều, gây khó chịu, anh Nguyễn Văn H, 31 tuổi, trú tại xã Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng mới đến bệnh viện kiểm tra.
 
Sau khi chụp chiếu, làm các chỉ định, xét nghiệm cần thiết và nội soi dạ dày, thực quản, anh H được chẩn đoán có khối u xơ dưới niêm mạc thực quản.
 
Ngay khi nhập viện, các bác sĩ đã khai thác nhanh bệnh sử, bệnh nhân cho biết khi nuốt thức ăn có cảm giác đau tức nghẹn rất khó chịu. Nhận thấy tổn thương là u xơ, tuy nhiên anh H đã đau khoảng hai tuần, các triệu chứng không thuyên giảm, bác sĩ Bệnh viện K đánh giá chưa loại trừ tổn thương có dị vật thực quản, các bác sĩ đã quyết định phẫu thuật.
 
Ngày 26-12, kíp phẫu thuật do các bác sĩ Khoa Ngoại bụng I tiến hành gồm TS, BS Phạm Văn Bình, Trưởng khoa, cùng hai bác sĩ trong khoa đã phẫu thuật cho bệnh nhân H bằng phương pháp nội soi 3D. Bằng kinh nghiệm lâu năm, các bác sĩ thực hiện phẫu tích tỉ mỉ, lấy trọn vẹn tổn thương viêm xơ ở thực quản kích thước 3x4cm trong đó có dị vật xương cá.
 
TS, BS Phạm Văn Bình, Trưởng khoa Ngoại bụng 1, Bệnh viện K chia sẻ: “Đây là trường hợp hiếm gặp do có dị vật xương cá trong tổ chức viêm xơ thực quản. Nếu không điều trị, phẫu thuật kịp thời, bệnh nhân có thể dẫn đến áp xe trung thất, thủng thực quản, thậm chí tử vong”.
 
Bệnh nhân H được áp dụng phương pháp phẫu thuật nội soi 3D có nhiều ưu điểm giúp phẫu thuật viên quan sát rõ nét với hình ảnh sâu của không gian ba chiều, từ đó dễ phát hiện và lấy được dị vật xương cá nhỏ. Phương pháp này bảo đảm về tính thẩm mỹ, không có đường sẹo ở dưới ngực như mổ mở thông thường, giảm đau sau mổ tốt và đặc biệt là bệnh nhân có thể hồi phục nhanh chóng.
 
Bên cạnh đó thì phẫu thuật nội soi 3D cũng đặt ra nhiều thách thức cho phẫu thuật viên: yêu cầu bác sĩ phẫu thuật phải có kinh nghiệm, kỹ thuật tốt, bảo đảm thực hiện phẫu tích tỉ mỉ, chính xác.
 
Phẫu thuật nội soi 3D đã được ứng dụng thành công, thực hiện thường quy tại Bệnh viện K chứng tỏ được trình độ phát triển về mặt kỹ thuật, chỉ định, kỹ năng phẫu tích của phẫu thuật nội soi, nhiều bệnh nhân được hưởng lợi ích, ưu điểm của phương pháp này đem lại, giúp họ tiết kiệm chi phí điều trị, rút ngắn thời gian nằm viện mà vẫn bảo đảm quá trình hồi phục nhanh chóng.
 
(Báo Nhân dân)
Khoa Truyền thông giáo dục sức khỏe

 
 
Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Thống kê
  • Đang truy cập37
  • Hôm nay11,826
  • Tháng hiện tại175,704
  • Tổng lượt truy cập6,304,602
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây