Điểm báo ngày 14/11/2016

Nhiệm vụ lâu dài, cách làm bền bỉ

Thời gian qua, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) của Hà Nội đã được đẩy mạnh với các giải pháp nhằm làm giảm tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS). Tuy nhiên, bên cạnh việc số người sinh con thứ ba trở lên đã giảm thì tỷ số chênh lệch giới tính nam nữ còn khá cao, đặc biệt là ở ngoại thành. Để giải quyết tận gốc vấn đề này, cần phải coi đây là nhiệm vụ lâu dài, với cách làm bền bỉ.
Hậu quả từ tâm lý "trọng nam, khinh nữ" 
Chỉ số giới tính khi sinh được tính bằng số trẻ em sinh là trai/100 bé gái. Chỉ số này được coi là bình thường trong khoảng 103 đến 107 bé trai/100 bé gái. Duy trì tỷ số này trong giới hạn nói trên sẽ giúp bảo đảm sự cân bằng trong phát triển tự nhiên và xã hội của một quốc gia, địa phương.
Tuy nhiên, theo Chi cục DS-KHHGĐ Hà Nội, trong 9 tháng năm 2016, trên địa bàn thành phố, tỷ số giới tính khi sinh vẫn ở mức cao, cứ 113,6 bé trai thì có 100 bé gái. Mặt khác, tỷ lệ sinh con thứ 3 có giảm nhưng chưa bền vững. Tâm lý muốn sinh con trai đã khiến cho nỗ lực khống chế tỷ lệ MCBGTKS và giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 gặp khó khăn. Các phòng khám siêu âm mọc lên ngày càng nhiều, kiếm lợi nhờ tâm lý muốn biết giới tính sớm của con ở sản phụ, tạo cơ sở cho việc nạo phá thai để lựa chọn giới tính của trẻ. Bác sĩ Chu Hoàng Giang, Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội cho biết, hiện nay, việc chẩn đoán giới tính thai nhi có thể đúng đến 70% ở tuần thứ 12 và chính xác ở tuần thứ 14-16 với những bác sĩ giỏi. Mặc dù có quy định cấm siêu âm xác định giới tính thai nhi nhưng số người biết trước giới tính con mình trước khi sinh hiện lên đến khoảng 90%. Đáng bàn hơn, nhiều phòng khám đông y cũng đua nhau cung cấp dịch vụ nhận biết giới tính thai nhi sớm. Chị Nguyễn Hải Yến (phường Sài Đồng, quận Long Biên, Hà Nội) chia sẻ: "Khi thai nhi được 9 tuần tuổi, tôi được bạn bè giới thiệu một thầy lang nổi tiếng về chẩn đoán giới tính thai nhi. Khi bắt mạch, thầy lang này phán thai nhi là con gái. Thế nhưng, tại phòng khám đông y khác, thầy lang người Trung Quốc lại cho kết quả là con trai. Trên thực tế, tôi đã sinh một bé gái". Theo dự báo của Tổng cục DS-KHHGĐ, đến năm 2050, Việt Nam sẽ thừa 2,3-4,3 triệu nam giới. Điều này đồng nghĩa với số nam giới tương ứng sẽ đối mặt với nguy cơ không tìm được vợ. Nếu như tại nước ta, MCBGTKS xảy ra ngay từ lần sinh đầu tiên thì với các nước trong khu vực Châu Á như: Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, MCBGTKS xảy ra ở lần sinh thứ hai, thứ ba. Mặt khác, ở nhiều nước, MCBGTKS chỉ xảy ra ở nhóm phụ nữ có trình độ thấp, kinh tế khó khăn, vùng nông thôn. Còn ở Việt Nam, tình trạng này xảy ra ở khắp các vùng miền, từ thành thị đến nông thôn, cả với người giàu và người nghèo, người có học vấn cao hoặc thấp. Điều này cho thấy tâm lý “trọng nam, khinh nữ” đã đang tiếp tục để lại hậu quả xấu.
 Thay đổi nhận thức
Tình trạng mất cân bằng giới tác động lớn đến cơ cấu, chất lượng dân số nước ta, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của quốc gia. MCBGTKS dẫn đến thiếu hụt phụ nữ và “dư thừa” đàn ông, đặc biệt là ở độ tuổi kết hôn. Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng kết hôn sớm, ly hôn, độc thân, bạo hành, bất bình đẳng giới, làm gia tăng tệ nạn xã hội, thiếu lao động phù hợp cho những ngành nghề thích hợp với phụ nữ như giáo viên mầm non, tiểu học, y tế, may mặc… 
Theo Phó Giám đốc Sở Y tế Hoàng Đức Hạnh, tình trạng MCBGTKS chủ yếu do việc lựa chọn giới tính thai nhi, định kiến giới ăn sâu trong suy nghĩ của nhiều người. Hạn chế tình trạng này là nhiệm vụ lâu dài, đòi hỏi cách làm bền bỉ. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, ngoài các giải pháp của ngành, cần đưa nội dung KHHGĐ vào hương ước, tiêu chí xây dựng làng văn hóa. 
Bên cạnh đó, cần tiếp tục đầu tư nguồn lực cho hệ thống dân số địa phương cũng như kinh phí duy trì hoạt động DS-KHHGĐ, bảo đảm nguồn nhân lực và chế độ chính sách dành cho tuyên truyền viên dân số. Mặt khác, cần nâng cao trách nhiệm của các bác sĩ sản khoa, tăng cường quản lý các phòng khám tư, yêu cầu tuyệt đối không tiết lộ giới tính thai nhi khi tuổi thai thấp.Còn theo ông Tạ Quang Huy, Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ Hà Nội, bên cạnh việc tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề bình đẳng giới, cần phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Ban Chỉ đạo công tác dân số cấp quận, huyện, thị xã tại địa bàn. Đặc biệt là tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các cơ sở y tế công lập và tư nhân trên địa bàn trong việc thực hiện quy định cấm lựa chọn giới tính thai nhi. 
Rõ ràng, giải pháp cốt lõi là làm thay đổi nhận thức để không chỉ khắc phục tình trạng MCBGTKS mà còn là để tất cả phụ nữ và trẻ em gái đều có quyền lợi như nam giới.
 
(Báo Hà Nội mới)
 

Thuốc tiêm, dịch truyền: Lạm dụng nguy hiểm!

Dạng thuốc tiêm không phải luôn hoàn hảo vì bên cạnh một số ưu điểm so với thuốc uống, nó cũng có nhiều nhược điểm .Thời gian gần đây đã xảy ra nhiều trường hợp bị tai biến, tử vong do tiêm thuốc một cách vô tội vạ, từ việc tiêm thuốc để trị bệnh đến tiêm thuốc làm đẹp…

Từ tai biến đến tử vong
Đã có tình trạng rất đáng báo động là một số trẻ em được cho tiêm bắp thuốc K-Cort (chứa triamcinolon là thuốc glucocorticoid cho tác dụng kéo dài) bị teo cơ hay một số người lớn tiêm K-Cort vào khớp trị đau khớp và bị nhiễm trùng khớp.
Theo báo cáo cách đây không lâu của Khoa Chỉnh hình Bệnh viện Nhi trung ương, hàng chục trẻ em bị xơ hóa cơ bởi tiêm kháng sinh đã phải đến chữa trị tại khoa này do tai biến làm giảm chức năng vận động rất nghiêm trọng.
Như vậy, dạng thuốc tiêm, đặc biệt là tiêm truyền, không phải luôn tốt nhất như nhiều người lầm tưởng mà là dạng thuốc phải rất thận trọng khi dùng, thậm chí có khi không nên dùng.
Lâu nay, có một quan niệm khá phổ biến rằng dùng thuốc tiêm tốt hơn thuốc uống. Do đó, khi đến phòng khám, một số bệnh nhân nài nỉ thầy thuốc cho thuốc tiêm, thậm chí còn đòi hỏi được tiêm truyền “nước biển”.
Mới đây, một bệnh nhân nam ở Hải Phòng được đưa đến Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) trong tình trạng sốc nặng, suy đa tạng kèm theo những tổn thương viêm tấy, lan tỏa toàn bộ vùng lưng, đùi...
Trước đó, do bị đau lưng nên bệnh nhân này đã đến một người cùng khu để tiêm truyền thuốc giảm đau, 3-4 ngày sau khi tiêm, xung quanh khu vực tiêm truyền bị viêm tấy khiến bệnh nhân sốt cao, vàng da. Sau cùng, dù đã được các bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai điều trị tích cực bằng các kỹ thuật cao như: lọc máu liên tục, dùng kháng sinh đặc hiệu liều cao… nhưng bệnh nhân vẫn tử vong.
Trước đó, một cô gái 20 tuổi (ở quận Tân Phú, TP HCM) cũng tử vong sau khi truyền nước biển tại một phòng khám gần nhà chỉ vì “thấy trong người mệt mỏi”.
Thuốc tiêm là gì?
Theo định nghĩa, thuốc tiêm là một dạng dược phẩm vô trùng dùng để tiêm vào cơ thể. Chính định nghĩa này cho thấy dạng thuốc tiêm không phải luôn hoàn hảo vì bên cạnh một số ưu điểm so với thuốc uống, nó cũng mang nhiều nhược điểm.
Dưới đây là một số ưu điểm:
- Do được tiêm vào cơ thể, thuốc được hấp thu trực tiếp và trọn vẹn vào máu nên có tác dụng nhanh và hiệu quả cao.
- Thuốc không qua hệ tiêu hóa nên không bị dịch tiêu hóa hoặc gan hủy hoại. Một số thuốc có bản chất peptid như hormone (progesteron, insulin…) hay một số enzyme, nếu uống thuốc sẽ bị dịch vị thủy giải hoặc bị gan biến đổi thành những chất không có tác dụng.
- Tiêm truyền tĩnh mạch cho phép thay thế nhanh chóng lượng nước, điện giải, tế bào, sinh chất bị mất đi do phẫu thuật hay tai nạn gây mất máu chẳng hạn.
Nhưng nhược điểm cũng không ít:
- Tiêm thuốc đòi hỏi phải có dụng cụ thích hợp như ống tiêm, kim tiêm, tiêm truyền thì phải có bộ dây truyền và phải tuyệt đối vô trùng. Nếu không vô trùng thì có nguy cơ bị nhiễm trùng (như áp xe, nhiễm HIV, nhiễm viêm gan siêu vi B, C). Người tiêm thuốc không thông thạo cách tiêm có thể gây ra tai biến: như tiêm tĩnh mạch calcium clorid phải tiêm thật chậm, tiêm thuốc ở mông nếu không đúng chỗ sẽ làm thương tổn dây thần kinh.
- Thuốc tiêm có tác dụng nhanh và tiếp thu trọn vẹn nên nếu có sự nhầm lẫn thì thật tai hại, thậm chí nguy đến tính mạng nếu dược chất có nhiều độc tính.
- Thuốc tiêm dễ gây phản ứng toàn thân hay tại chỗ khi cơ thể không dung nạp thuốc. Như tiêm penicillin, vitamin B1 có khi gây sốc phản vệ trầm trọng, tiêm thuốc dầu nhiều lần thường để lại nốt cứng gây đau đớn.
Do có những nhược điểm như trên, người ta chỉ dùng thuốc tiêm thay vì dùng thuốc uống trong những trường hợp như: cấp cứu, bệnh nhiễm trùng nặng, người bệnh không thể hợp tác uống thuốc…
Trên nguyên tắc, khi thầy thuốc kê toa cho thuốc tiêm là đã có sự cân nhắc cần thiết. Vì vậy, khi đi khám bệnh không nên nài nỉ thầy thuốc cho thuốc tiêm khi không cần thiết.
Nên nhớ, tiêm thuốc nguy hiểm hơn uống thuốc, người dùng thuốc không thể tự tiêm thuốc mà phải có nhân viên chuyên môn thông thạo kỹ thuật thực hiện…
 
(Báo Dân trí)
 

Vì sao không hút thuốc vẫn bị ung thư phổi?

Mặc dù ung thư phổi thường đi đôi với hút thuốc lá, nhưng theo Hội Ung thư Mỹ, có đến 20% số người chết vì ung thư phổi tại Mỹ mỗi năm chưa từng đụng đến bất kì sản phẩm thuốc lá nào.
Dưới đây là 3 lý do khiến ung thư phổi có thể xảy ra người chưa từng hút thuốc lá.
Môi trường
Các yếu tố môi trường đóng một vai trò quan trọng trong nguy cơ ung thư phổi của mỗi cá nhân, và theo Cục Bảo vệ Môi trường Mỹ, khí radon là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi ở người không hút thuốc. Radon là một chất khí phóng xạ không màu, không mùi hình thành tự nhiên là kết quả của sự phân rã các nguyên tố phóng xạ như urani.
Theo Hội Ung thư Mỹ, mọi người có thể tiếp xúc với khí radon trong nhà hoặc các công trình xây dựng trên đất hoặc đá có đặc tính phóng xạ cao. Sau đó khí phát ra từ đất hoặc đá có thể thâm nhập vào công trình xây dựng thông qua các vết nứt trên tường hoặc móng. Vì lý do này, những người dành nhiều thời gian trong tầng hầm hoặc ở những phần thấp nhất của một tòa nhà sẽ có nguy cơ phơi nhiễm radon lớn nhất.
Lối sống
Mặc dù người không hút thuốc đã giảm đáng kể nguy cơ ung thư phổi, họ có thể vô tình làm tăng nguy cơ do lối sống. Ví dụ, dành nhiều thời gian ở những nơi khiến họ tiếp xúc với khói thuốc lá thụ động có thể làm tăng nguy cơ nghiêm trọng.
Ngoài ra, tuy có mối liên quan trực tiếp giữa một chế độ ăn uống không lành mạnh và tăng nguy cơ ung thư phổi, nghiên cứu đã chỉ ra rằng ăn chế độ ăn lành mạnh đầy đủ trái cây và rau có thể bảo vệ chống lại bệnh ung thư phổi ở cả người có và không hút thuốc lá.
Di truyền
Một số người có cơ địa di truyền ung thư phổi. Theo Hội Ung thư Mỹ, một số đột biến di truyền đặc hiệu thực sự phổ biến hơn ở những bệnh nhân ung thư phổi không hút thuốc so với người hút thuốc lá.Ngoài ra, theo Trung tâm Điều trị Ung thư Mỹ, những người có người thân trực tiếp trong gia đình đã hoặc đang bị ung thư phổi (và không hút thuốc lá) có thể dễ phát triển bệnh hơn.
 
(Báo Dân trí)
Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Thống kê
  • Đang truy cập45
  • Máy chủ tìm kiếm12
  • Khách viếng thăm33
  • Hôm nay3,236
  • Tháng hiện tại71,669
  • Tổng lượt truy cập1,529,756
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây