Điểm báo ngày 15/1/2019


 
95% bệnh nhân ung thư vú được chữa khỏi nếu phát hiện sớm
 
“Cụm công trình nghiên cứu Dịch tễ học, ứng dụng các tiến bộ mới trong chẩn đoán, điều trị và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư vú” của nhóm tác giả tại Bệnh viện K đã chứng minh, tỷ lệ chữa khỏi ung thư vú là 95% nếu phát hiện ở giai đoạn sớm.
 
Đề tài “Cụm công trình nghiên cứu Dịch tễ học, ứng dụng các tiến bộ mới trong chẩn đoán, điều trị và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư vú” do GS, TS Trần Văn Thuấn, GS, TS Nguyễn Bá Đức, PGS, TS Bùi Diệu, PGS.TS Tạ Văn Tờ, TS Nguyễn Văn Định, TS Lê Thanh Đức, TS Lê Hồng Quang, TS Phùng Thị Huyền, TS Đỗ Doãn Thuận, BS Đặng Thế Căn, BS Tô Anh Dũng, PGS.TS Trần Thanh Hương, Ths Nguyễn Hoài Nga và cộng sự thực hiện được trao giải nhất lĩnh vực Y Dược Nhân tài đất Việt năm 2018. Chiều 14-1, ông Phạm Huy Hoàn, Trưởng Ban tổ chức Giải thưởng Nhân tài đất Việt 2018 đã trao giấy chứng nhận và giải thưởng trị giá 200 triệu đồng cho nhóm tác giả.
 
GS.TS Trần Văn Thuấn cho biết, đây là cụm công trình được các cán bộ nòng cốt Bệnh viện K tiến hành từ năm 1993 đến nay. Hiện nay, phác đồ điều trị này không những áp dụng tại Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới cũng áp dụng phác đồ này. Cụm công trình được tiến hành trong suốt 25 năm không chỉ nổi trội về nghiên cứu, hợp tác quốc tế, mà cụm công trình bao gồm tất cả các lĩnh vực từ dịch tễ, chẩn đoán, sinh học phân tử, mảng điều trị ngoại khoa, nội khoa, xạ trị…liên quan đến ung thư vú.
 
Tại Việt Nam, ung thư vú là bệnh phổ biến nhất ở phụ nữ và ngày càng tăng cao. Việc ứng dụng những kỹ thuật mới trong cụm công trình đã nâng cao tỷ lệ điều trị khỏi cho bệnh nhân ung thư vú lên đến 95% nếu phát hiện sớm. Tỷ lệ chữa khỏi ung thư vú ở viện K nói chung cho tất cả các giai đoạn tới 75%, tương đương các nước phát triển.
 
Thay mặt nhóm nghiên cứu, ông cũng bày tỏ công trình nghiên cứu với kết quả điều trị khỏi bệnh ung thư vú rất ngoạn mục, là niềm tự hào không riêng của Bệnh viện K mà cho ngành ung thư, cho ngành y tế. GS Thuấn cũng bày tỏ lời cảm ơn tới tất cả các thầy, cô, đồng nghiệp đã không quản ngại khó khăn nghiên cứu, đánh giá, tổng kết, phổ biến, chuyển giao kỹ thuật điều trị ung thư vú cho tuyến tỉnh. Với số tiền thưởng trị giá 200 triệu đồng, GS Thuấn cũng thay mặt nhóm tác giả trao tặng 100 triệu đồng cho Quỹ Ngày mai tươi sáng, 100 triệu đồng dành tặng Quỹ Nhân ái của Báo Dân trí để dành tặng các trường hợp khó khăn.
 
Tại Việt Nam, ung thư vú là loại ung thư phổ biến hàng đầu ở nữ giới với tỷ lệ mắc mới chuẩn hóa theo tuổi (ASR) vào năm 2013 là 24,4/100.000 dân (ước tính của GLOBOCAN năm 2018 là 26,4/100.000 dân). Theo thống kê, hiện có khoảng 42.188 người đang sống cùng căn bệnh ung thư vú.
 
Trước đây ung thư vú là nỗi ám ảnh của nhiều người, nhưng ngày nay ung thư vú có thể sàng lọc, phát hiện sớm và tiên lượng điều trị tốt nếu được chẩn đoán ở giai đoạn sớm.
 
Hiện nay, với kỹ thuật FISH – phương pháp lai tại chỗ gắn huỳnh quang, tỷ lệ bộc lộ HER2 lên đến 41%, và tỷ lệ khuyếch đại gen chiếm 39%, là dấu ấn quan trọng cho việc ứng dụng liệu pháp điều trị đích bằng kháng thể đơn dòng Trastuzumab. Qua đó, cải thiện ngoạn mục về tỷ lệ sống thêm cho bệnh nhân ung thư vú có thụ thể HER2 dương tính, cụ thể tỷ lệ sống thêm toàn bộ sau 1-3 năm là 87-98%, kể cả ở các nhóm có di căn hạch tỷ lệ sống không bệnh sau 5 năm là trên 75%.
 
GS Thuấn cho biết, nếu bình thường không có biện pháp điều trị đích, không có phương pháp chẩn đoán gen, tỷ lệ sống thêm của người bệnh có gen dương tính dưới 50%. Nhưng nay, nhờ các kỹ thuật mới này đã "lội ngược dòng" một cách ngoạn mục, với tỷ lệ chữa khỏi ung thư vú tại BV K là 75%, tương đương như tại Singapore.
 
"Với ung thư vú nếu phát hiện ở giai đoạn sớm tỷ lệ chữa khỏi đến 95%. Tuy nhiên tại Việt Nam, vẫn có đến 50% bệnh nhân ung thư vú đến viện ở giai đoạn muộn. Trong khi đó, việc tầm soát, sàng lọc có ý nghĩa vô cùng quan trọng với phát hiện sớm ung thư vú", GS Trần Văn Thuấn nói.
 
Trong giai đoạn 2008-2010, qua sàng lọc 70.980 phụ nữ tại bảy tỉnh/thành phố, tỷ lệ phát hiện ung thư vú qua sàng lọc là 59,2/100.000 phụ nữ là khá cao, cho thấy hiệu quả khi triển khai các chương trình này tại cộng đồng. Tại cộng đồng, chỉ có 24,2% phụ nữ có thực hành tự khám vú hàng tháng trong số những người tham gia chiến dịch sàng lọc, phát hiện sớm ung thư vú. Tín hiệu đáng mừng đó là tỷ lệ phát hiện bất thường ở nhóm phụ nữ thực hành tự khám vú thấp hơn ở nhóm không thực hành cho thấy hiệu quả và ý nghĩa của việc hướng dẫn phụ nữ tự khám vú đối với việc phát hiện sớm tổn thương ung thư vú.
 
GS Trần Văn Thuấn bày tỏ, hiệu quả sàng lọc ung thư vú rất rõ. Vì thế rất mong thời gian tới BHXH chi trả tối thiểu cho việc khám sàng lọc, qua đó tăng được tỷ lệ người bệnh đi khám, điều trị sớm sẽ gia tăng tỷ lệ chữa khỏi, điều trị khỏi.
 
(Báo Nhân dân)
 
Dịch sởi có nguy cơ bùng phát
 
Theo số liệu thống kê của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, số ca mắc và nghi sởi năm 2018 là 5.100 trường hợp, tăng mạnh so với năm 2017. Trong những tuần đầu tiên của năm 2019, số ca mắc sởi vẫn tiếp tục tăng.
 
Số ca mắc sởi tăng vọt
 
Trong 3 tháng trở lại đây, tại BV Bạch Mai ghi nhận có sự gia tăng của các ca mắc sởi ở người lớn. Nếu trong năm 2018, số ca mắc bệnh rải rác từ đầu năm tới cuối năm chỉ rơi vào khoảng 50 trường hợp, trong 3 tháng trở lại đây, mỗi tháng số lượng bệnh nhân tăng từ 5 - 7 trường hợp, rải rác tại các địa bàn của Hà Nội và các tỉnh lân cận như Hà Nam, Hưng Yên, Bắc Giang, đối tượng mắc chủ yếu là nữ giới đang trong độ tuổi từ 25 - 40. Theo PGS.TS Đỗ Duy Cường- Trưởng khoa Truyền nhiễm, BV Bạch Mai: riêng tuần đầu năm 2019 đã có 6 ca nằm điều trị. Rất có thể dịch sởi sẽ xảy ra theo chu kỳ 4-5 năm, kể từ năm 2014.
 
Tại BV Nhi Trung ương cũng thường xuyên điều trị cho 20 trẻ mắc sởi mỗi ngày. Còn trên quy mô toàn quốc, số ca mắc bệnh trong năm 2018 rơi vào hơn 5.100 trường hợp, cao hơn rất nhiều so với năm 2017 (với hơn 300 trường hợp). Do đó, nguy cơ bùng phát dịch sởi trong năm 2019 hoàn toàn có thể xảy ra.
 
Được biết, bệnh sởi gây ra nhiều biến chứng, như: Viêm phổi, viêm giác mạc, viêm tai giữa, viêm màng não… có thể gây nguy hiểm nếu không được chăm sóc, điều trị đúng cách, đặc biệt là ở trẻ nhỏ dưới 9 tháng, người suy giảm miễn dịch hoặc có những bệnh mãn tính khác.
 
Đối với người lớn, sởi nguy hiểm nhất là biến chứng do não viêm, gây rối loạn trung khu tuần hoàn đường hô hấp, có thể khiến bệnh nhân tử vong, các biến chứng nặng khác, như: Liệt, động kinh... Với thai phụ mắc sởi, nguy cơ dễ sảy thai, đẻ non do sốt rất cao, dễ bội nhiễm do suy giảm miễn dịch hơn người khác.
 
Chủ động phòng bệnh
 
Gần đây, có tình trạng một số người coi thường bệnh sởi, khi mắc thì được chẩn đoán là sốt phát ban hoặc dị ứng. Một số người dân lại coi nhẹ việc tiêm phòng, hoặc khi mắc sởi, không thực hiện cách ly mà tiếp tục sinh hoạt, giao tiếp bình thường với người xung quanh.
 
PGS.TS Đỗ Duy Cường khuyến cáo, người dân hãy bình tĩnh khi mắc sởi, đưa bệnh nhân tới khám tại các cơ sở y tế để nắm được tình trạng bệnh. Cách tốt nhất để phòng bệnh sởi là tiêm vắc xin đầy đủ, đúng lịch. Người lớn chưa được tiêm vắc xin này, cũng nên đến các điểm tiêm phòng để được tư vấn, tiêm chủng.
 
Theo Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế), bệnh sởi có tính lây truyền cao nhất và thường lây truyền qua đường hô hấp, đôi khi có thể lây gián tiếp qua những đồ vật mới bị nhiễm các chất tiết đường mũi họng của bệnh nhân. Thời kỳ ủ bệnh  từ 12-14 ngày, có thể kéo dài đến 21 ngày. Thời kỳ lây truyền thông thường khoảng 4 ngày trước khi phát ban đến 4 ngày sau khi xuất hiện ban, ít nhất là sau ngày thứ 2 phát ban.
 
Tất cả những người chưa bị mắc bệnh sởi hoặc chưa được gây miễn dịch đầy đủ bằng vắc xin sởi đều có khả năng mắc sởi. Bệnh sởi nguy hiểm nhất đối với trẻ em nhỏ tuổi. Bệnh làm suy yếu sức đề kháng của cơ thể, nên thường kèm theo biến chứng như viêm phế quản, viêm tai, tiêu chảy. Những bệnh này khi mắc cùng bệnh sởi có diễn biến rất nặng.
 
Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu với sởi nhưng có thể phòng bệnh bằng tiêm vắc xin. Khi bị sởi cần tăng cường dinh dưỡng để phòng suy dinh dưỡng. Đặc biệt, dùng thêm vitamin A để tránh loét giác mạc, mù mắt; vệ sinh răng miệng, da, mắt.
 
(Báo Đại đoàn kết)
 
Ghép phổi thành công từ người cho sống: Đánh dấu trình độ phát triển cao của y học
 
Tháng 12-2018, Hội đồng khoa học Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Quốc phòng đã đánh giá nghiệm thu cấp Nhà nước đề tài “Nghiên cứu ghép thùy phổi hoặc một phổi từ người cho sống và người cho chết não" do Giáo sư Đỗ Quyết, Giám đốc Học viện Quân y làm chủ nhiệm đề tài. Đề tài được đánh giá là đạt kết quả xuất sắc, chứng minh trình độ phát triển cao của nền y học Việt Nam, mở ra một hướng điều trị mới, hiệu quả cho các bệnh nhân bị mắc các bệnh phổi nặng.
 
Ca ghép lịch sử
 
Tháng 11-2016, Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y tiếp nhận bệnh nhân là bé trai 7 tuổi Ly Chương Bình, quê ở xã Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Cháu bé ở trong tình trạng giãn phế quản bẩm sinh lan tỏa hai phổi, biến chứng suy hô hấp, tâm phế mạn, suy dinh dưỡng độ 3 và chỉ có ghép phổi thì bệnh nhi mới có cơ hội được cứu sống. Bố và bác cháu Bình đã đồng ý cho một phần phổi của mình để ghép cho cháu bé. Điều may mắn là tất cả chỉ số của cả người cho và người nhận đều phù hợp từ 70% đến 80%.
 
Ca ghép do các bác sĩ Bệnh viện Quân y 103 phối hợp với các chuyên gia của Bệnh viện Đại học Okayama (Nhật Bản) tiến hành. Giáo sư Đỗ Quyết cho biết, ghép phổi là một trong những ca ghép tạng rất khó vì đây là cơ quan hô hấp bảo đảm cung cấp oxy cho cơ thể. Hơn nữa, việc chăm sóc phần phổi được ghép khỏe khoắn, đủ chức năng để ghép cũng rất phức tạp vì khi được cắt ra, phổi đã bị tổn thương nên nguy cơ nhiễm trùng cao.
 
Ngày 21-2-2017, ca phẫu thuật đã được tiến hành thành công sau khoảng thời gian mổ kéo dài 10 tiếng. Cháu Bình được cắt bỏ toàn bộ 2 lá phổi, sau đó lấy 1 thùy phổi từ bố và 1 thùy phổi từ bác ruột để ghép. Ngay sau khi mổ, hai người cho được rút ống nội khí quản và phổi đã giãn nở ra hoàn toàn, không có biến chứng. Đặc biệt, cháu Bình không có biến chứng về lâm sàng cũng như không bị nhiễm trùng.
 
Chị Phàn Thị Tâm, mẹ cháu Ly Chương Bình cho biết, đến nay, sau gần 2 năm ghép phổi, ca phẫu thuật đã đem tới điều kỳ diệu cho cậu bé. Hiện cháu đã tăng cân, sức khỏe ổn định, đi học và sinh hoạt bình thường.
 
Hiệu quả đầu tư khoa học
 
Theo Giáo sư Đỗ Quyết, Giám đốc Học viện Quân y, Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu, sau những ca ghép thận, ghép gan, ghép tim và ghép khối tụy - thận thành công, trong những năm gần đây, Học viện Quân y đã nghiên cứu triển khai ghép phổi, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm. Từ năm 2016, Học viện đã tích cực xây dựng đề cương nghiên cứu, cử cán bộ đi khảo sát, trao đổi kinh nghiệm về ghép phổi tại Bệnh viện Đại học Okayama và đón đoàn chuyên gia của Nhật Bản sang trao đổi kinh nghiệm, tư vấn về ghép phổi. Tháng 11-2016, Học viện được Bộ Khoa học và Công nghệ giao nhiệm vụ thực hiện đề tài "Nghiên cứu ghép thùy phổi hoặc một phổi từ người cho sống và người cho chết não" thuộc Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020 “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến phục vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng” (KC.10/16-20). Đề tài được triển khai trong 3 năm (2016-2019) với khoản hỗ trợ 13,1 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước và có sự phối hợp thực hiện của Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Nhi trung ương, Bệnh viện trung ương Quân đội 108 và Bệnh viện Chợ Rẫy cùng một số chuyên gia Nhật Bản.
 
Tại buổi nghiệm thu đề tài nói trên, các chuyên gia của Hội đồng nghiệm thu đều đánh giá rất cao những kết quả đề tài đạt được. Cùng với việc thực hiện thành công ca ghép phổi từ người cho sống đầu tiên tại Việt Nam, đề tài đã xây dựng và hoàn thiện các quy trình: Gây mê trong ghép thùy phổi từ người cho sống; kỹ thuật lấy, rửa, bảo quản phổi từ người cho sống; kỹ thuật ghép thùy phổi từ người cho sống; điều trị, chăm sóc sau ghép phổi. Đề tài được nghiệm thu sớm một năm so với kế hoạch.
 
Giáo sư Phạm Gia Khánh, Chủ tịch Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp Nhà nước cho rằng, việc thực hiện thành công ca ghép phổi đầu tiên của Việt Nam đã mở ra một phương pháp mới trong điều trị bệnh nhân mắc bệnh phổi nặng và đưa trình độ ghép phổi của Việt Nam theo kịp thế giới, tạo dấu mốc quan trọng trong lịch sử ghép tạng của Việt Nam. Trong số 6 tạng của con người là thận, gan, tim, tụy, phổi và ruột, Việt Nam đã ghép thành công thận, gan, tim, khối tụy - thận và bây giờ là ghép phổi, Học viện Quân y là đơn vị đầu tiên thực hiện các ca ghép đó. "Tất cả thành công trong ghép tạng đều là sản phẩm khoa học của các đề tài, chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước. Nếu không có sự đầu tư cho khoa học và công nghệ, chúng ta không thể có được những thành tựu này", Giáo sư Phạm Gia Khánh nhấn mạnh.
 
Ca ghép thùy phổi từ người cho sống đầu tiên ở Việt Nam đã chứng minh trình độ phát triển cao của nền y học Việt Nam bởi ghép phổi khó hơn rất nhiều so với các kỹ thuật ghép tạng đã thực hiện. Các quy trình ghép đã được xây dựng từ kết quả nghiên cứu chặt chẽ, khoa học, logic, phù hợp với điều kiện Việt Nam, có thể chuyển giao cho các trung tâm ghép khác.
 
(Báo Hà nội mới)
 
Vẫn tái diễn ngộ độc rượu kém chất lượng
 
Thời gian vừa qua, các vụ ngộ độc methanol trong rượu liên tiếp xảy ra với nhiều mức độ nghiêm trọng khác nhau đã khiến dư luật đặt nhiều dấu hỏi về chất lượng rượu sản xuất trong nước, cũng như công tác quản lý ngành cồn, rượu của Việt Nam.
 
Rượu tự nấu chiếm 90% thị trường
 
Hàng năm, cứ mỗi dịp cận kề Tết Nguyên Đán, tình trạng ngộ độc rượu lại xảy ra rất nhiều và không có chiều hướng thuyên giảm. Nguyên nhân ngộ độc rượu chính là do uống phải rượu kém chất lượng.
 
Theo các bác sĩ đã xét nghiệm, kiểm tra những người bị ngộ độc rượu cho biết đều là do trong rượu có chứa hàm lượng methanol quá nhiều và vượt quá mức cho phép. Hiện nay, có quá nhiều rượu kém chất lượng lưu thông trên thị trường đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước cùng với người dân nhanh chóng có biện pháp ngăn chặn.
phóng viên, các quán nhậu, quán nướng, ốc nóng khu vực Chùa Láng (Đống Đa, Hà Nội) thường sử dụng các loại rượu ngâm như táo mèo, ba kích, nếp cái hoa vàng... Đặc điểm chung của các loại rượu này đều được đóng trong chai nước khoáng Lavie, không có tem nhãn mác, thông tin khác về rượu.
 
Khi được hỏi về nguồn gốc rượu ngâm này, chủ quán đều sẽ trả lời cho khách yên tâm rằng: rượu này là tự ngâm, tự nấu nên không phải lo về chất lượng. Tuy nhiên, quá trình tự ngâm, tự nấu của chủ quán như thế nào, có đảm bảo chất lượng không thì đó lại là một vấn đề khác mà khách hàng khó có thể biết được.
 
Anh Nguyễn Bảo Nam, chủ một quán ăn đêm ở khu vực đường Trần Duy Hưng (Cầu Giấy, Hà Nội) cho biết: “Rượu này anh nhập ở Mỹ Đình, chỉ cần gọi số điện thoại là người ta mang đến tận quán, còn chỗ người ta sản xuất anh đã đến bao giờ đâu mà biết, với cả đến để làm gì đâu”.
 
Qua đó cho thấy công tác quản lý các loại rượu trôi nổi, rượu không rõ nguồn gốc trên thị trường còn hạn chế.  Rất ít cơ sở sản xuất, kinh doanh rượu tự nấu, tự ngâm được cấp phép hoặc bị xử phạt. Trong khi đó, nhiều quán ăn hiện đều sử dụng các loại rượu không có nhãn mác, nguồn gốc xuất xứ.
 
Hiệp hội Bia, Rượu, Nước giải khát cho biết, 95,7% số người sử dụng rượu thường uống rượu tự nấu và hơn 90% thích uống rượu tự nấu vì giá rẻ, hợp khẩu vị. Rượu tự nấu hiện chiếm tới 90% lượng rượu tiêu thụ trong nước, tương đương 250 triệu lít/năm và con số này tăng 8 - 10%/năm. Tuy nhiên, việc quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát quy trình sản xuất, tiêu thụ của loại rượu này thiếu chặt chẽ, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ngộ độc cho người sử dụng.
 
Nhiều nguy hiểm
 
Theo các bác sĩ Trung tâm Chống độc (Bệnh viện Bạch Mai), rượu pha methanol (rượu cồn công nghiệp) giống hệt rượu gạo truyền thống nên người dùng khó phân biệt. Tuy nhiên, khi uống phải loại rượu này, người uống sẽ bị hôn mê, tụt huyết áp, trụy mạch, mù mắt, thậm chí tử vong.
 
Không ít người đã chết ngay trên bàn nhậu. Nhiều trường hợp người nhà phát hiện hôn mê, đưa đi bệnh viện thì tình trạng đã rất nặng, thường để lại di chứng thần kinh không có cơ hội phục hồi hoặc tử vong sau đó.
 
Việc uống phải rượu giả, rượu kém chất lượng có thể có nguy cơ bị rối loạn tâm thần. Rượu giả, kém chất lượng sẽ ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương nhiều nhất, chính vì thế uống quá nhiều rượu, lạm dụng bia rượu quá mức sẽ khiến cho sự phán đoán, tính chủ động và ý thức đạo đức của người uống sẽ hoàn toàn bị hạn chế, thậm chí không làm chủ được bản thân mình. Như vậy, ta thấy nếu uống phải rượu kém chất lượng thì thật sự rất nguy hiểm cho sức khỏe.
 
Các chuyên gia nhận định, việc kiểm soát rượu không chặt chẽ không những gây nguy hiểm cho người tiêu dùng, gây thất thu cho Nhà nước, mà còn góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh không lành mạnh.
 
Các doanh nghiệp lớn nộp thuế sẽ không thể cạnh tranh về giá thành so với các loại rượu thủ công. Lo ngại hơn là nhiều cơ sở sản xuất rượu thủ công còn làm giả tem thuế dán lên sản phẩm của mình để “che mắt” các cơ quan quản lý nhà nước.
 
Về mặt quản lý thị trường tiêu thụ thì việc ngăn chặn sản xuất và kinh doanh rượu thủ công, rượu kém chất lượng cần có sự vào cuộc của cả cộng đồng. Mỗi người dân cần nâng cao ý thức phát hiện và tố cáo hành vi sản xuất, tiêu thụ rượu kém chất lượng. Người tiêu dùng không sử dụng rượu thủ công rẻ tiền, không rõ xuất xứ, chỉ sử dụng rượu có nhãn hiệu, rõ nguồn gốc.
 
Hậu quả của ngộ độc rượu chúng ta đều thấy rất rõ trong đời sống hàng ngày. Việc lựa chọn rượu uy tín, chất lượng để tránh tình trạng đáng tiếc xảy ra cần được mỗi cá nhân lưu tâm. Bên cạnh đó, hạn chế rượu bia là biện pháp tốt nhất để đảm bảo an toàn cho sức khỏe bản thân và cộng đồng.
 
(Báo Pháp luật Việt Nam)
 
Đóng bảo hiểm y tế khác nhau, quyền lợi hưởng vẫn như nhau
 
Về mức hưởng BHYT, người tham gia BHYT được chi trả theo trường hợp bệnh tật với mức quy định, chứ không theo mức đóng.
 
Bảo hiểm xã hội (BHXH) VN cho biết, theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế (BHYT) hiện hành, có 5 nhóm tham gia BHYT với các mức đóng được tính theo tỷ lệ 4,5% mức tiền lương, tiền công hoặc mức lương cơ sở.
 
Trong nhóm đối tượng đóng BHYT theo mức tiền lương, tiền công, người lao động tại các doanh nghiệp đang chủ yếu tham gia BHYT theo mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.
 
Theo quy định tại Nghị quyết 99/2015/QH13, mức lương tối thiểu vùng là mức lương tối thiểu để người lao động và doanh nghiệp thỏa thuận với nhau, đồng thời đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
 
Mức lương này còn là cơ sở để đóng và hưởng các khoản BHXH, BHYT, bảo hiểm tự nguyện của người lao động. Trong khi đó, mức lương cơ sở là mức lương dùng làm căn cứ tính các mức hoạt động phí, tính các khoản trích và chế độ được hưởng theo mức lương này. Do vậy, việc lấy mức lương cơ sở để làm căn cứ tính mức hưởng nhằm bảo đảm quyền lợi cho tất cả các nhóm đối tượng.
 
Về mức hưởng BHYT, người tham gia BHYT được chi trả theo trường hợp bệnh tật với mức quy định, chứ không theo mức đóng.
 
Mức hưởng được quy định chung đối với hầu hết các đối tượng (trừ một số nhóm đối tượng đặc biệt sẽ được hưởng mức cao hơn, như người có công, người cao tuổi, trẻ em dưới 6 tuổi, người nghèo...).
 
Trong đó, BHXH thanh toán 100% chi phí khám chữa bệnh với trường hợp chi phí một lần khám chữa bệnh thấp hơn 15% mức lương cơ sở... Đối với các trường hợp hưởng các dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn, đều căn cứ vào mức lương cơ sở.
 
Theo thống kê của BHXH VN, trên thực tế, với quy định chi trả đang áp dụng, dù tính trên mức lương cơ sở, chi phí khám chữa bệnh BHYT bình quân với mỗi bệnh nhân hiện nay đều cao hơn so với mức đóng của người tham gia.
 
Trong năm 2017, bình quân mức chi 1 thẻ BHYT/năm là trên 1,1 triệu đồng, trong khi mức đóng trung bình chỉ khoảng 1 triệu đồng/năm.
 
(Báo Thanh niên)
Khoa Truyền thông giáo dục sức khỏe

 
Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Thống kê
  • Đang truy cập32
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm31
  • Hôm nay1,309
  • Tháng hiện tại282,528
  • Tổng lượt truy cập5,457,186
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây