Điểm báo ngày 21/7/2018

 
Các bệnh viện Hà Nội thu hồi thuốc Trung Quốc có chất gây ung thư
 
Theo đại diện Sở Y tế, các bệnh viện trên địa bàn Hà Nội đang thu hồi toàn bộ thuốc sản xuất từ nguyên liệu Valsartan của Trung Quốc.
 
Liên quan đến việc thu hồi thuốc sản xuất từ nguyên liệu Valsartan do Công ty Zhejiang Huahai Pharmaceutical của Trung Quốc sản xuất, do có chứa tạp chất N-nitrosodimethylamine (NDMA) có nguy cơ gây ung thư, đại diện Sở Y tế Hà Nội vừa cho biết thành phố đang tiến hành việc thu hồi các loại thuốc thành phẩm này.
Trao đổi với Zing.vn, ông Nguyễn Văn Khải, Trưởng phòng Nghiệp vụ dược (Sở Y tế Hà Nội), cho hay Hà Nội có 4 bệnh viện gồm: Bệnh viện Đa khoa Hà Đông, Bệnh viện Đa khoa Đống Đa, Bệnh viện Thanh Nhàn và Bệnh viện Đa khoa huyện Quốc Oai và 3 công ty gồm Công ty TNHH Dược phẩm Ba Đình, Công ty TNHH Dược phẩm Gia Minh và Công ty TNHH Dược phẩm Tân An có trúng thầu một số thuốc chứa Valsartan thuộc diện bị thu hồi.
 
Bệnh viện Đa khoa Đống Đa và Bệnh viện Đa khoa Hà Đông cấp phát hết số thuốc đã nhập. Bệnh viện Thanh Nhàn đã trả lại cho nhà cung ứng gần 2.000 viên thuốc. Bệnh viện Đa khoa huyện Quốc Oai chưa nhập thuốc. Còn 3 công ty dược phẩm đã thu hồi được khoảng 136.000 viên thuốc chứa Valsartan trên địa bàn Hà Nội.
 
"Hiện các bệnh viện đã thu hồi 100%, nguồn thuốc là từ 3 công ty trên xuất ra. Vẫn có nhiều thuốc khác cùng hoạt chất đó được lưu hành nên người bệnh hoàn toàn yên tâm vì có đủ thuốc để sử dụng", ông Khải thông tin.
 
Đại diện lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa Hà Đông cũng cho hay trong danh mục thuốc thu hồi Cục Quản lý Dược- Bộ Y tế gửi, phía bệnh viện không nhập khẩu thuốc trực tiếp từ các nhà sản xuất đó. Trong đó, một lô thuốc bệnh viện nhập khẩu của châu Âu. Nhà sản xuất này lại xác nhận nhập khẩu nguyên liệu từ công ty dược của Trung Quốc. Lô thuốc đó được Bệnh viện Đa khoa Hà Đông nhập từ tháng 1 và đã cấp phát hết. Hiện nay, khi đã có thông báo của Cục Quản lý Dược, bệnh viện không nhập khẩu thuốc này nữa.
 
Nguyên nhân 23 loại thuốc thành phẩm của doanh nghiệp dược nước ta bị thu hồi là nguyên liệu Valsartan chứa tạp chất N-nitrosodimethylamine (NDMA) có nguy cơ gây ung thư.
 
Dược chất Valsartan được dùng để điều trị bệnh tăng huyết áp và suy tim, ngăn ngừa đột quỵ cho người cao tuổi, nhồi máu cơ tim và các vấn đề về thận. Thuốc Valsartan làm giảm tỉ lệ tử vong do tim mạch trên bệnh nhân suy chức năng tâm thất trái sau nhồi máu cơ tim và điều trị suy tim. Ngoài ra, thuốc cũng được dùng để giúp bảo vệ thận khỏi tổn thương do bệnh tiểu đường nên được nhiều người sử dụng.
 
Cũng theo lãnh đạo của Bệnh viện Đa khoa Hà Đông, hiện điều trị tim mạch, huyết áp có rất nhiều loại thuốc khác nhau, có thành phần và tác dụng tương tự loại thuốc bị thu hồi. Vì vậy, người bệnh có thể yên tâm điều trị.
 
(Báo Zing.vn)
 
Lười vận động- nguyên nhân gây bệnh đái tháo đường
 
Bên cạnh việc ăn uống mất kiểm soát, lười vận động cũng là nguyên nhân chính gây nên tình trạng gia tăng người mắc đái tháo đường typ 2 hiện nay.
 
Chia sẻ về căn bệnh này, TS.BS Nguyễn Quang Toàn - Trưởng khoa Đái tháo đường, Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho biết: Đái tháo đường được coi là “kẻ giết người thầm lặng” bởi đây là căn bệnh làm tăng biến chứng các bệnh tim mạch như: Nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não...
 
Đặc biệt, đái tháo đường còn là nguyên nhân hàng đầu gây suy thận ở bệnh nhân suy thận được lọc máu; biến chứng thần kinh, bệnh lý bàn chân, các biến chứng nhiễm trùng như lao, nhiễm khuẩn huyết. Như vậy, bệnh đái tháo đường làm ảnh hưởng tới sức khỏe, chất lượng cuộc sống hoặc gây tàn phế, giảm tuổi thọ thậm chí dẫn tới tử vong đối với người bệnh.
 
Các bác sĩ đang thăm khám cho bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện. Ảnh: Bệnh viện cung cấp.
 
Ở Việt Nam cũng như trên toàn thế giới thì đái tháo đường typ 2 phổ biến hơn và chiếm đến 90% tổng người bệnh đái tháo đường trong khi typ 1 chỉ chiếm có 5%.
Theo bác sĩ Toàn, cách đây 20 – 30 năm, những ca bệnh đái tháo đường ở Việt Nam tương đối hiếm. Ngoài ra, những người mắc bệnh đái tháo đường thuộc typ 2 thường chỉ nằm ở độ tuổi từ 40 tuổi trở lên. Tuy nhiên hiện nay, tình trạng người bệnh đái tháo đường typ 2 ngày càng trẻ hóa. Thậm chí nhiều người dưới 13 tuổi đã mắc phải căn bệnh nguy hiểm này.
 
Phân tích về nguyên nhân, bác sĩ Toàn cho rằng, chính việc ăn uống mất kiểm soát, lối lối sống lười vận động là nguyên chính gây nên tình trạng gia tăng người mắc đái tháo đường typ 2 hiện nay. Đặc biệt với nhiều trẻ nhỏ có lối sống và sinh hoạt không khoa học, dành quá nhiều thời gian xem ti vi, điện thoại, máy tính… cũng dẫn đến nguy cơ mắc phải bệnh đái tháo đường cao hơn.
 
Là một trong nhiều trường hợp mắc đái tháo đường nặng đang điều trị tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương, bà N.T.X (76 tuổi, ở Hà Nội), bị đái tháo đường suốt 18 năm qua vẫn chưa ổn định. Nguyên nhân ban đầu được xác định là do thói quen ăn uống thiếu khoa học và chưa tuân thủ đúng chỉ dẫn của bác sĩ tại bệnh viện trong quá trình điều trị.
 
“Khi vào viện được điều trị theo đúng phác đồ của bác sĩ tôi thấy bệnh thuyên giảm hơn rất nhiều. Trước đó, do thói quen ăn uống mất kiểm soát đã khiến chỉ số đường huyết của tôi tăng cao bất thường và buộc phải vào viện để điều trị. Đó cũng là lý do khiến bệnh của tôi bị biến chứng sang các bộ phận khác như: mắt, tim, thận… Gần đây nhất, đái tháo đường còn là nguyên nhân gây biến chứng ảnh hưởng tới phổi của tôi” bà X nói.
 
Bởi vậy để tránh bệnh đái tháo đường tiến triển và biến chứng nguy hiểm từ căn bệnh này, các bác sĩ khuyến cáo, những người bệnh đái tháo đường cần tuyệt đối tuân thủ theo phác đồ điều trị của bác sĩ. Đồng thời, người bệnh đái tháo đường cần xây dựng lối sống lành mạnh, chế độ ăn uống và tập luyện phù hợp để giữ lượng đường huyết ổn định. Đặc biệt, khi thấy đường huyết tăng cao cần tới ngay cơ sở y tế để được bác sĩ thăm khám và điều trị kịp thời.
 
(Báo Lao động Thủ đô)
 
Việt Nam là một trong 19 quốc gia có tình trạng thiếu i-ốt nghiêm trọng
 
Viện Dinh dưỡng quốc gia (Bộ Y tế) cho biết, theo báo cáo của Mạng lưới i-ốt toàn cầu, Việt Nam đang nằm trong số 19 nước trên thế giới có tình trạng thiếu i-ốt nghiêm trọng nhất.
 
Đây là một thực tế đáng báo động về tình trạng thiếu hụt i-ốt ở nước ta.
 
9,8% trẻ từ 8-10 tuổi bị bướu cổ
 
Theo kết quả điều tra của Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2013-2014 cho thấy: Tỷ lệ bướu cổ trẻ em từ 8-10 tuổi là 9,8%; tỷ lệ hộ gia đình sử dụng muối i-ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh khoảng 60%, mức trung vị i-ốt niệu là 8,4mcg/dl.
 
Đây là mức thấp nhất trong 10 năm qua. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về thanh toán tình trạng thiếu i-ốt mà Việt Nam đã đạt được năm 2005 thì tỷ lệ bướu cổ trẻ em từ 8-10 tuổi nhỏ hơn 5% và mức trung vị i-ốt niệu lớn hơn hoặc bằng 10mcg/dl.
 
Các nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương giai đoạn 2000-2010 đã chỉ rõ: Thực phẩm từ nuôi trồng tự nhiên ở các vùng miền nước ta đều có hàm lượng i-ốt không đáng kể nên chưa đáp ứng đủ nhu cầu cơ thể.
 
Nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng quốc gia năm 2010 cũng cho thấy chỉ có 6% số người được hỏi dùng duy nhất gia vị mặn là muối i-ốt và 75% còn lại sử dụng gia vị mặn từ các sản phẩm chế biến có muối như nước mắm, nước tương, bột canh...
Theo Viện Dinh dưỡng quốc gia, nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do giai đoạn trước năm 2005, Việt Nam thực hiện bắt buộc chương trình mục tiêu quốc gia bổ sung i-ốt. Tuy nhiên, ngay khi thanh toán được tình trạng thiếu i-ốt, quy định bắt buộc dùng bổ sung i - ốt bị bãi bỏ khiến độ bao phủ giảm đột ngột.
 
Bên cạnh đó, chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống bướu cổ không còn, thiếu ngân sách để cung cấp nguyên liệu i-ốt trộn vào muối… Vì vậy, người dân cũng chuyển dần từ sử dụng muối i-ốt sang các loại bột canh hay hạt nêm không chứa i-ốt.
 
Thực tế, từ năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định về bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm, trong đó quy định bắt buộc phải bổ sung i-ốt vào thực phẩm. Quy định này có hiệu lực từ ngày 15/3/2017; tuy nhiên đến nay hầu như các doanh nghiệp vẫn chưa triển khai tốt.
 
Tăng cường i-ốt vào các thực phẩm thiết yếu
 
Ông Lê Danh Tuyên, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia khẳng định: I-ốt hóa muối ăn là giải pháp chiến lược của toàn cầu cũng như của Việt Nam. Tăng cường i-ốt vào thực phẩm thiết yếu đã được chứng minh là biện pháp đơn giản để bổ sung i-ốt nói riêng, vi chất dinh dưỡng nói chung trong bữa ăn hàng ngày.
 
Bà Đỗ Hồng Phương, Chuyên gia Chính sách dinh dưỡng của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) cho biết: Trong số 130 quốc gia trên toàn cầu qui định bắt buộc bổ sung i-ốt thì có 69 quốc gia (53%) yêu cầu sử dụng muối i-ốt cho thực phẩm chế biến.
 
Các chuyên gia đã tiến hành nghiên cứu và công bố cho thấy không có sự thay đổi hữu cơ đáng kể nào với sản phẩm được sản xuất với muối bổ sung i-ốt (màu sắc, hương vị, cấu trúc). Ít nhất 100 quốc gia yêu cầu sử dụng muối i-ốt để chế biến thực phẩm...
 
Thái Lan đã tiến hành nghiên cứu đánh giá sự thất thoát i-ốt trong quá trình lên men cá và nước mắm được sản xuất bằng muối i-ốt cũng như ảnh hưởng cảm quan của sản phẩm. Kết quả cho thấy việc lên men cá, làm nước mắm bằng muối bổ sung i-ốt là khả thi và duy trì được nồng độ i-ốt ở mức chấp nhận được. Kết quả của nghiên cứu này phù hợp với nhiều nghiên cứu khác về việc sử dụng muối i-ốt để chế biến thực phẩm tương tự như ở Việt Nam.
 
Theo Bà Đỗ Hồng Phương, tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm có giá thành thấp nhất, chỉ 0,06 USD/người/năm nhưng lại có nhiều ưu điểm như thuận tiện, dễ áp dụng rộng rãi trong cộng đồng.
 
Tuy nhiên, để biện pháp này đạt hiệu quả thì doanh nghiệp chế biến thực phẩm cần thực hiện trách nhiệm xã hội, cùng với nhà nước đảm bảo sức khỏe cộng đồng. Doanh nghiệp sẽ thu hồi chi phí sản xuất từ việc tính chi phí để tăng cường vi chất vào giá thành sản phẩm.
 
Giá thành sản phẩm cũng tăng không đáng kể, ở mức mọi người đều có thể chấp nhận được. Như vậy, người dân sẽ được thụ hưởng sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và có lợi cho sức khỏe…
 
Viện Dinh dưỡng quốc gia khuyến cáo: Thiếu i-ốt sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như bướu cổ, thiểu năng tuyến giáp ảnh hưởng lớn đến phát triển, hoạt động của cơ thể, giảm khả năng lao động, mệt mỏi. Thiếu i-ốt ở trẻ em sẽ gây chậm phát triển trí tuệ, chậm lớn, nói ngọng... Ở phụ nữ mang thai, thiếu i-ốt dễ dẫn đến sảy thai, thai chết lưu hoặc sinh non.
 
Nếu mẹ thiếu i-ốt nặng trong giai đoạn mang thai trẻ sinh ra sẽ bị đần độn, câm, điếc và các dị tật bẩm sinh khác. Biểu hiện của tình trạng thiếu hụt i-ốt đơn giản chỉ là cảm giác người mệt mỏi, lờ đờ nên nhiều người không để ý.
 
Tình trạng thiếu i-ốt gây 5-10% trường hợp đần độn, 20-30% người mắc bệnh bướu cổ. Nhiều người bị thiếu năng lượng, giảm khả năng lao động, ảnh hưởng đến sức khỏe. Chính vì vậy, việc sử dụng gia vị có bổ sung i-ốt trong nấu ăn, chế biến thực phẩm hàng ngày là biện pháp hiệu quả và bền vững để phòng ngừa thiếu hụt i-ốt.
 
Theo đó, nhu cầu i-ốt ở trẻ em theo khuyến nghị là từ 90-120 mcg/ngày, người lớn khoảng 150cmg/ngày. Các rối loạn do thiếu i-ốt hoàn toàn có thể phòng tránh bằng cách bổ sung trong bữa ăn hàng ngày. Ngoài muối i-ốt, các thực phẩm giàu i-ốt là các loại cá biển, rong biển, rau dền, rau cải xoong, tảo…
 
(Báo Tin tức)
Phòng Thông tin báo chí
 
Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Thống kê
  • Đang truy cập41
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm40
  • Hôm nay7,051
  • Tháng hiện tại116,153
  • Tổng lượt truy cập4,413,520
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây