Điểm báo ngày 23/3/2018

Kiểm soát lao kháng thuốc tại Hà Nội
 
Lao là bệnh nhiễm trùng có thể chữa khỏi hoàn toàn. Trong những năm qua Việt Nam chúng ta cùng với cộng đồng quốc tế đã có những thành tựu rực rỡ trong công cuộc phòng, chống bệnh lao.
 
Tuy nhiên, tình trạng lao kháng thuốc đang trở thành nỗi lo sợ của nhiều người bệnh mắc lao và là thử thách không nhỏ trong công tác phòng chống căn bệnh này. Mỗi năm, trên thế giới có khoảng 500.000 trường hợp lao kháng thuốc, trong đó có đến 5-7% lao siêu kháng thuốc. Việt Nam xếp thứ 16 trong 30 nước có gánh nặng bệnh lao cao trên thế giới và xếp thứ 13 trong 30 nước có gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc cao nhất trên toàn cầu.
 
Nếu không điều trị sớm và triệt để, người bệnh mắc vi khuẩn lao kháng thuốc nguy cơ thất bại điều trị và tử vong rất cao. Nguy hiểm hơn, có thể lây truyền vi khuẩn lao kháng thuốc cho những người xung quanh, gây ra những hậu quả khôn lường.
Việc điều trị lao kháng thuốc khó khăn hơn rất nhiều. Thời gian và chi phí chữa trị cũng tăng hơn nhiều so với bệnh lao thông thường.
 
Thách thức đặt ra đối với lao kháng thuốc là người bệnh phải được phát hiện sớm để có thể can thiệp điều trị kịp thời và kiểm soát lây lan. Trước đây, chẩn đoán lao phổi chỉ dựa vào xét nghiệm soi đờm trực tiếp. Tuy nhiên, kỹ thuật này có hạn chế là phụ thuộc rất lớn vào kỹ năng và kinh nghiệm của người soi, nên đã có những trường hợp bị bỏ sót. Để xác định người bệnh mắc lao đa kháng thuốc, phải tiến hành nuôi cấy vi khuẩn theo một quy trình phức tạp, mất nhiều thời gian (sau khi soi phát hiện được vi khuẩn lao). Một số địa phương chưa có phòng xét nghiệm và phương tiện nuôi cấy còn gặp khó khăn trong vận chuyển mẫu tới các trung tâm chẩn đoán hoặc các bệnh viện trung ương gây nên chậm trễ cho sự phát hiện và chỉ định điều trị bệnh lao đa kháng thuốc, khiến cho nhiều người có thể bị tử vong trước khi được điều trị. Kỹ thuật ứng dụng sinh học phân tử để phát hiện vi khuẩn lao kháng thuốc Gene Xpert đã đáp ứng được các đòi hỏi cấp bách trong các hoạt động phòng, chống lao toàn cầu, trong đó có Việt Nam.
 
Gene Xpert là một kỹ thuật mang tính đột phá tích hợp của 3 công nghệ: tách gene, nhân gene và nhận biết gene. Kỹ thuật Gene Xpert cho phép xác định vi khuẩn lao ở mức độ ít với độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao. Thêm vào đó, quy trình thao tác rất đơn giản, kỹ thuật cho kết quả nhanh và là “kết quả kép”, tức là đồng thời cho biết mẫu bệnh phẩm có vi khuẩn lao hay không, có nhiều hay ít và vi khuẩn có kháng với thuốc Rifampicin (thuốc kháng sinh đặc trị lao) hay không. Kỹ thuật được Tổ chức Y tế Thế giới chứng thực đưa vào sử dụng từ tháng 12/2010. Một năm sau khi đưa vào sử dụng đã có 40 quốc gia thuộc châu Mỹ La tinh, châu Phi, châu Âu, châu Á bắt đầu triển khai kỹ thuật mới này. Việt Nam là quốc gia sớm được tiếp cận với kỹ thuật ngay trong giai đoạn đầu tiên này. Kết quả đánh giá ở những năm đầu triển khai kỹ thuật này cho thấy tỷ lệ bệnh nhân lao và lao kháng thuốc được phát hiện tăng 50% so với trước đây. Điều đó chứng tỏ hầu hết những khó khăn trước đây trong việc phát hiện sớm người bệnh mắc lao, đặc biệt mắc lao kháng thuốc nhờ có Gene Xpert đã được đáp ứng.
 
Hà Nội là một trong 5 địa phương trong cả nước được lựa chọn triển khai kỹ thuật Gene Xpert ngay từ giai đoạn đầu. Đến nay kỹ thuật đã được triển khai từ tuyến thành phố đến tuyến quận, huyện với số lượng bệnh nhân tiếp cận ngày một tăng lên. Năm 2017 đã có gần 2.000 người bệnh được xét nghiệm bằng kỹ thuật Gene Xpert, qua đó phát hiện 518 trường hợp mắc lao và 139 bệnh nhân lao kháng thuốc.
 
Hiện nay kỹ thuật Gene Xpert được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo sử dụng trong các trường hợp sau: Xét nghiệm chẩn đoán ban đầu cho những trường hợp nghi mắc lao kháng đa thuốc hoặc lao đồng nhiễm HIV; Tại những nơi tình hình dịch tễ lao đa kháng thuốc hoặc HIV không cao, Gene Xpert có thể cân nhắc áp dụng cho trường hợp xét nghiệm đờm trực tiếp âm tính để tăng phát hiện lao phổi. Việc sớm đưa vào ứng dụng kỹ thuật Gene Xpert - một kỹ thuật hiện đại để phát hiện lao và lao kháng thuốc tại Việt Nam thể hiện sự quan tâm của Chính phủ đối với công cuộc phòng chống lao; đồng thời ghi nhận nỗ lực của các cán bộ chuyên ngành lao trong việc tiếp cận kỹ thuật. Thời gian tới đây, khi kỹ thuật Gene Xpert được triển khai rộng khắp trong cả nước, hứa hẹn mang lại những thành quả mới trong công cuộc phòng chống lao ở nước ta.
 
(Báo Sức khỏe và đời sống)
 
Lần đầu tiên phẫu thuật u tuyến giáp qua đường miệng ở Việt Nam
 
Ca phẫu thuật cho nữ bệnh nhân 19 tuổi được thực hiện thành công, là ca đầu tiên tại Bệnh viện K ứng dụng phương pháp này.
 
Thông tin từ Bệnh viện K cho biết, bệnh nhân vừa được phẫu thuật cắt bỏ khối u qua đường miệng đầu tiên tại Việt Nam là Nguyễn Thị Q., sinh năm 1999, quê ở Hà Giang, nhập viện vì được chẩn đoán có khối u lành tính ở thuỳ trái tuyến giáp kích thước khoảng 2,5 cm, gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ vùng cổ và sức khỏe.
 
Sau khi hội chẩn, nhận thấy khối u gây mất thẩm mỹ và ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân, các bác sĩ khoa Ngoại đầu cổ của bệnh viện đã chỉ định phẫu thuật để loại bỏ hoàn toàn khối u.
 
Khi có chỉ định phẫu thuật, có hai phương pháp chủ yếu là mổ mở (phải rạch một đường ở nền cổ khoảng 4-6 cm) và mổ nội soi. Gần đây phát triển thêm kỹ thuật cắt tuyến giáp qua đường miệng. Đây là một phương pháp mới, với các ưu điểm vượt trội đó là an toàn, không để lại sẹo, có thể cắt u tuyến giáp ở cả hai thùy bằng một đường vào, đường tiếp cận ngắn nhất, ít chảy máu, diện bóc tách ít. Bệnh nhân có thể hồi phục nhanh ngay sau mổ, giảm tối đa thời gian nằm viện.
 
Sau khi cân nhắc, các bác sĩ tại khoa Ngoại đầu cổ đã tư vấn cho bệnh nhân phương pháp mới là cắt bỏ u tuyến giáp qua đường miệng.
 
Sáng 21/3, ca phẫu thuật do ekip bác sĩ khoa Ngoại đầu cùng với ekip gây mê hồi sức, Bệnh viện K đã tiến hành phẫu thuật cho bệnh nhân. Sau hai ngày phẫu thuật, bệnh nhân đã có thể đi lại, ăn uống bình thường, vùng cổ không để lại sẹo.
 
PGS.TS Lê Văn Quảng - Phó Giám đốc Bệnh viện K, kiêm Trưởng khoa Ngoại Đầu Cổ cho biết, tuyến giáp là tuyến nội tiết quan trọng của cơ thể. Tuy nhiên, đây là cơ quan hay xuất hiện khối u cả lành và ác tính. Đối với ung thư tuyến giáp, chỉ định mổ gần như bắt buộc, còn đối với u lành tính, chỉ định mổ khi kích thước khối u lớn gây ảnh hưởng đến chức năng nuốt, thẩm mỹ của bệnh nhân.
 
U tuyến giáp thường gặp ở nữ giới hơn nam giới. Khi có chỉ định phẫu thuật, có hai phương pháp chủ yếu đó là mổ mở và mổ nội soi. Mổ mở là phương pháp mổ truyền thống, cần phải rạch một đường ở nền cổ với đường kính khoảng 4-6 cm. Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân sẽ có sẹo ở nền cổ, điều này gây mất thẩm mỹ, đặc biệt với những bệnh nhân nữ trẻ tuổi.
 
"Đây là ca phẫu thuật loại bỏ u tuyến giáp qua đường miệng đầu tiên được thực hiện tại Bệnh viện K. Đây là một kỹ thuật tiên tiến, có nhiều ưu điểm so với các phương pháp khác. Với ca đầu tiên thành công, sẽ mở ra nhiều cơ hội cho nhiều bệnh nhân u tuyến giáp có thể can thiệp bằng phương pháp qua đường miệng, giảm xâm lấn, hồi phục nhanh cho bệnh nhân", PGS Quảng nói.
 
(Báo Công lý)
Mai Trang
Thăm dò ý kiến

Theo bạn, giao diện Cổng thông tin điện tử của Sở Y tế Hà Nội?

Liên kết
Thống kê
  • Đang truy cập29
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm28
  • Hôm nay7,051
  • Tháng hiện tại115,658
  • Tổng lượt truy cập4,413,025
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây