Điểm báo ngày 23/9/2018

Phụ huynh lo chất lượng sữa học đường cận date
 
Triển khai chương trình sữa học đường là chủ trương đầy tính nhân văn. Tuy nhiên, nhiều phụ huynh ở Hà Nội lo ngại, chất lượng và bảo quản ra sao để đảm bảo.
 
Lo sữa cận date vào trường học
 
Trong buổi họp phụ huynh mới đây, anh Nguyễn T. D (Hoàng Mai, Hà Nội) và các phụ huynh được giáo viên thông báo, nhà trường sẽ triển khai chương trình sữa học đường.
 
Anh D. cho biết, trước cuộc họp này, giáo viên chủ nhiệm đã phát thông báo về đề án để phụ huynh tìm hiểu trước và đưa ra thảo luận trong buổi họp này.
 
Theo thông báo về đề án được giáo viên chủ nhiệm phát cho học sinh trước đó, trẻ em mẫu giáo và học sinh tiểu học sẽ được uống sữa tươi 5 lần/tuần (tức mỗi ngày một lần), mỗi lần 1 hộp 180ml, có giá 6.800 đồng.
 
Chi phí cho mỗi hộp sữa sẽ được ngân sách hỗ trợ 30%, doanh nghiệp cung cấp sữa hỗ trợ 20%, phụ huynh đóng góp 50%, tức giá mỗi hộp dự kiến tối đa khoảng 6.800 đồng (180ml), không tăng giá cho đến hết năm 2020.
 
Riêng đối với trẻ em thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo, người dân tộc thiểu số, thuộc diện chính sách, ngân sách sẽ hỗ trợ 50%, doanh nghiệp hỗ trợ 50%. Đặc biệt, đây là chương trình tự nguyện, không bắt buộc tất cả học sinh phải tham gia.
 
Phần cuối bản thông báo này, có dành riêng phần thông tin để phụ huynh học sinh ghi tên phụ huynh và học sinh. Phụ huynh đồng ý chọn chương trình hay không. Nếu không đồng ý thì vì lý do gì.
 
Anh D. cho biết, mục tiêu của đề án đưa ra rất nhân văn. Do vậy, trong buổi họp phụ huynh này, nhiều phụ huynh đồng tình. Tuy nhiên, họ cũng đặt ra các băn khoăn về chất lượng sữa, hạn sử dụng và cách thức triển khai ra sao để chủ trương đúng này không bị “biến tướng”.
 
Chị T.P, phụ huynh một học sinh chia sẻ với chúng tôi: “Đồng ý đây là chủ trương đúng, mang tính nhân văn cao. Tuy nhiên, nhìn lại một số vụ ngộ độc thực phẩm gần đây qua các chương trình sữa học đường mà các trường tự phát triển khai, chúng tôi vô cùng lo ngại.
 
Thứ nhất, việc bảo quản có đúng quy trình không? Thứ hai, chúng tôi lo ngại, các hãng sẽ cung cấp sữa cận date, vậy làm sao kiểm soát được hay chỉ căn cứ vào sự trung thực của doanh nghiệp cung cấp”?
 
Chị Thu. H, giáo viên một trường tiểu học ở quận Cầu Giấy cũng cho hay, con mình cũng được nhà trường thông báo về chương trình sữa học đường. Chị đặt vấn đề, trước đây, yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm trường học cũng được quy định chặt chẽ bằng văn bản hẳn hoi. Thế nhưng các trường học vẫn tuồn thực phẩm bẩn vào. Một số vụ việc đã đưa ra trên báo chí khiến phụ huynh không khỏi lo lắng khi triển khai đề án sữa. “Vậy cách thức triển khai thế nào để chúng tôi yên tâm”?, chị H. đặt câu hỏi.
 
Phụ huynh có thể tham gia hoặc không
 
Được biết, ngày 6/8, UBND TP ban hành Quyết định số 4019/QĐ-UBND, phê duyệt Đề án thực hiện Chương trình sữa học đường cải thiện tình trạng dinh dưỡng góp phần nâng cao tầm vóc trẻ em mẫu giáo và học sinh tiểu học trên địa bàn TP Hà Nội, giai đoạn 2018 - 2020.
 
Theo đó phấn đấu đến năm 2020, trên 90% trẻ mẫu giáo và học sinh tiểu học trên toàn thành phố được uống sữa theo Đề án Chương trình Sữa học đường; đáp ứng nhu cầu năng lượng của trẻ mẫu giáo và tiểu học đạt 95%...
 
Trước những băn khoăn của phụ huynh, ông Phạm Xuân Tiến - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Hà Nội cho biết, việc tham gia đề án này là hoàn toàn tự nguyện. Phụ huynh có thể đăng ký cho con tham gia ở bất kỳ thời điểm nào và cũng có thể tạm dừng bất cứ lúc nào khi không có nhu cầu.
 
Tuy nhiên, cũng theo ông Tiến đây là một đề án nhân văn với mục tiêu duy nhất là bổ sung dưỡng chất cần thiết trong giai đoạn phát triển thể lực cho trẻ em của TP nên mong muốn của ngành GD&ĐT là các nhà trường tổ chức tuyên truyền để phụ huynh hiểu chính xác ý nghĩa của chương trình.
 
Hiện, đến thời điểm này, Sở GD&ĐT Hà Nội cùng các đơn vị liên quan đang triển khai bán hồ sơ mời thầu và đã có 7 đơn vị đăng ký tham gia. Sau khi chốt, Sở sẽ công bố tên đơn vị trúng thầu tới tất cả phụ huynh.
 
Theo ông Tiến, đơn vị nào trúng thầu cũng phải bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn của Bộ Y tế về chất lượng sữa. Đơn vị đó phải đủ năng lực để đáp ứng cung ứng cho số lượng lớn trẻ mẫu giáo và học sinh tiểu học Hà Nội tham gia Đề án.
 
(Báo Dân trí)
 
Những số liệu báo động về tác hại rượu bia
 
Rượu, bia đều chứa cồn là chất gây nghiện, được Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) xếp vào nhóm chất gây ung thư, có tác động lên hầu hết các cơ quan trong cơ thể nên việc sử dụng rượu, bia có nguy cơ gây ra các tác động đối với sức khỏe, xã hội, kinh tế; và cần có cơ chế quản lý khác với các hàng hóa thông thường theo hướng phòng ngừa, hạn chế tác hại ngay từ khi con người tiếp cận sản phẩm này.
 
Căn nguyên của nhiều loại hình bệnh tật
 
Bằng chứng khoa học quốc tế cho thấy rượu, bia là nguyên nhân trực tiếp của ít nhất 30 bệnh, chấn thương và là nguyên nhân gián tiếp của ít nhất 200 loại bệnh tật nằm trong danh mục phân loại bệnh tật quốc tế ICD10 (một số tên bệnh đã có từ rượu như loạn thần do rượu, xơ gan do rượu, hội chứng rượu bào thai…), là một trong 4 yếu tố nguy cơ chính đối với các bệnh không lây nhiễm.
 
Sử dụng rượu, bia gây tổn thương đến nhiều cơ quan, chức năng của cơ thể như: Gây ung thư (gan, khoang miệng, họng, thanh quản, thực quản, tuỵ, thận, đại - trực tràng, vú); gây rối loạn tâm thần kinh (loạn thần, trầm cảm, rối loạn lo âu, giảm khả năng tư duy); bệnh tim mạch (nhồi máu cơ tim, đột quỵ); bệnh tiêu hóa (tổn thương gan, xơ gan, viêm tụy cấp tính hoặc mạn tính); ảnh hưởng tới chất lượng giống nòi và phát triển bào thai; suy giảm miễn dịch…
 
Trên thế giới, mỗi năm rượu, bia là nguyên nhân gây tử vong cho 3,3 triệu người, chiếm 5,9% tổng số tử vong, làm mất đi 5,1% số năm sống khỏe mạnh của con người, tương đương gánh nặng về sức khỏe do hút thuốc lá gây ra.
 
Báo cáo về Dự án Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia tại phiên họp thứ 27 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, tại Việt Nam, rượu, bia xếp thứ 5 trong 15 yếu tố nguy cơ sức khỏe hàng đầu. Số liệu thống kê chưa đầy đủ cho thấy năm 2012 có 8,3% số trường hợp tử vong liên quan đến sử dụng rượu, bia, 71,7% trường hợp tử vong do xơ gan ở nam và 36,2% trường hợp tử vong do tai nạn giao thông ở nam là do sử dụng rượu, bia; 15% số giường bệnh tại các bệnh viện tâm thần là dành cho điều trị người bệnh loạn thần do rượu, bia. Bên cạnh đó, tổn hại sức khỏe do ngộ độc rượu, bia trong đó có rượu, bia không bảo đảm chất lượng, không kiểm soát được nguồn gốc, rượu pha từ cồn công nghiệp cũng là vấn đề đáng lưu tâm.
 
Theo Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến, rượu, bia cũng gây những tác hại, tác động tiêu cực đến gia đình và xã hội. Nếu so với hút thuốc lá thì các hệ luỵ về mặt xã hội do sử dụng rượu, bia gây ra nghiêm trọng hơn nhiều, bao gồm: Tai nạn giao thông, chấn thương, bạo lực gia đình, mất an ninh trật tự, gia tăng khoảng cách giàu nghèo.
 
Gánh nặng cho gia đình và xã hội
 
Tại Việt Nam, rượu, bia là một trong 3 nguyên nhân hàng đầu làm gia tăng tỷ lệ tai nạn giao thông ở nam giới độ tuổi 15-49. Theo Nghiên cứu của WHO phối hợp với Ủy ban An toàn giao thông quốc gia trên 14.990 nạn nhân tai nạn giao thông nhập viện tại 6 tỉnh thì 28% người đi xe máy có nồng độ cồn trong máu cao hơn mức cho phép (50 mg/dl), 63,4% người lái xe ô tô có nồng độ cồn trong máu cao hơn mức cho phép (0 mg/dl). Thông tin từ Khoa cấp cứu Bệnh viện Việt Đức, chỉ trong 4 ngày Tết Mậu Tuất 2018 có gần 500 ca tai nạn giao thông nhập viện, trong đó hơn 60% có liên quan đến sử dụng rượu, bia.
 
Thống kê hằng năm có khoảng 800 ca tử vong do bạo lực có liên quan đến sử dụng rượu, bia; khoảng gần 30% số vụ gây rối trật tự xã hội có liên quan đến sử dụng rượu, bia; tỷ lệ trẻ em Việt Nam chịu tác hại từ việc sử dụng rượu, bia của người khác thuộc nhóm 2 nước cao nhất.
 
Tình trạng người dân ở các khu vực kém phát triển hơn uống rượu, bia ở mức có hại hiện nay là yếu tố nguy cơ có thể góp phần gia tăng khoảng cách giàu nghèo. Tác hại từ việc sử dụng rượu, bia của người lớn đối với trẻ em được ghi nhận phổ biến hơn ở các hộ gia đình ở nông thôn, thu nhập thấp và có người sử dụng nhiều rượu, bia. Phụ nữ và trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số đang là đối tượng gánh chịu tác hại từ việc sử dụng rượu, bia, trong đó người dân tộc thiểu số chịu hậu quả cao gấp 3-4 lần so với người Kinh.
 
Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cũng nhấn mạnh, sử dụng rượu, bia có thể gây ra gánh nặng kinh tế đối với cá nhân, gia đình và xã hội do các phí tổn về chăm sóc sức khỏe, giảm hoặc mất năng suất lao động và giải quyết các hậu quả xã hội khác. Chi tiêu cho rượu, bia chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi tiêu của hộ nghèo và là nguyên nhân làm cho tình trạng nghèo đói tăng thêm.
 
Theo thống kê của WHO, phí tổn kinh tế do rượu, bia chiếm từ 1,3% -3,3% GDP của mỗi quốc gia, trong đó chi phí gián tiếp thường nhiều hơn gấp 2 lần so với chi phí trực tiếp. Số liệu từ Đức - nước tiêu thụ rượu, bia đứng thứ 9 trên toàn cầu cho thấy, thiệt hại do rượu, bia gây ra hằng năm khoảng 20 tỷ Euro (trong khi doanh thu của ngành công nghiệp sản xuất rượu, bia là 17 tỷ Euro và số nộp ngân sách là 3,5 tỷ Euro).
 
Tại Việt Nam, nếu phí tổn kinh tế do rượu, bia ở mức thấp nhất của thế giới (1,3% GDP) thì thiệt hại ước tính khoảng 65 nghìn tỷ đồng. Chi phí của người dân cho tiêu thụ chỉ riêng đối với bia của Việt Nam năm 2017 là gần 4 tỷ USD. Ước tính chưa đầy đủ cho thấy tổng gánh nặng trực tiếp của 6 bệnh ung thư mà rượu, bia là một trong những nguyên nhân cấu thành chính đã là 25.789 tỷ đồng chiếm 0,25% tổng GDP năm 2017. Chi phí y tế trực tiếp cho người bệnh mắc các rối loạn tâm thần do rượu từ 500.000- 1.000.000đ/ngày. Chi phí giải quyết hậu quả của tai nạn giao thông liên quan đến rượu, bia chiếm tới 1% GDP (khoảng 5.000 tỷ đồng theo GDP năm 2017).
 
Tình hình sử dụng rượu, bia có xu hướng gia tăng nhanh
 
Các kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình sử dụng rượu, bia ở Việt Nam đang ở mức cao và có xu hướng gia tăng nhanh, thể hiện qua 3 tiêu chí là: Mức tiêu thụ lít cồn nguyên chất bình quân đầu người và ở nam giới. Tỷ lệ người dân có uống rượu, bia và Tỷ lệ người uống rượu, bia ở mức nguy hại nên cần được kiểm soát để giảm mức tiêu thụ.
 
Về mức tiêu thụ, nếu quy đổi rượu, bia ra lít cồn nguyên chất thì mức tiêu thụ bình quân đầu người Việt Nam (trên 15 tuổi) hằng năm theo số liệu năm 2014 của Tổng cục Thống kê là 4,4 lít; theo số liệu ước tính năm 2016 của Tổ chức Y tế thế giới là 8,3 lít, lên vị trí 64/194 nước, trong khi mức tiêu thụ trên toàn cầu tăng không đáng kể. Trong đó, tỷ trọng tiêu thụ cồn nguyên chất từ bia đang tăng nhanh và cao hơn từ rượu (mỗi năm sản lượng bia tăng thêm 250 triệu lít; năm 2017 người dân tiêu thụ khoảng 305 triệu lít rượu - tương đương 72 triệu lít cồn nhưng tiêu thụ tới gần 4,1 tỷ lít bia - tương đương với 161 triệu lít cồn, bình quân mỗi người dân đã tiêu thụ khoảng 42 lít bia).
 
Về mức độ phổ biến của việc uống rượu, bia, Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ nam giới uống rượu, bia cao và tỷ lệ này ở cả hai giới đang gia tăng. Năm 2010 có 70% nam và 6% nữ giới trên 15 tuổi có uống rượu, bia trong 30 ngày qua thì đến năm 2015 tỷ lệ này đã tăng lên tương ứng là 80,3% ở nam giới và 11,6% ở nữ giới. Xu hướng trẻ hóa tuổi sử dụng rượu, bia là một vấn đề nghiêm trọng do các hệ lụy về sức khỏe, xã hội với giới trẻ. Tỷ lệ uống rượu, bia ở vị thành niên và thanh niên là 79,9% đối với nam và 36,5% đối với nữ.
 
Tình trạng uống rượu, bia ở mức nguy hại rất đáng lưu tâm. Năm 2015 có tới 44,2% nam giới uống rượu, bia ở mức nguy hại (tăng gần gấp đôi so với năm 2010 là 25,1%). Tình trạng này phổ biến hơn ở các hộ gia đình người dân tộc thiểu số, miền núi và nông thôn. Tỷ lệ uống rượu được sản xuất thủ công không đăng ký kinh doanh, rượu không rõ nguồn gốc trong tỷ trọng tiêu thụ rượu, bia ở nước ta chiếm khoảng 74,3%, trong đó còn tình trạng người dân dùng cồn công nghiệp để pha chế rượu.
 
Hiện việc quản lý kinh doanh rượu, bia đã thực hiện tương đối đầy đủ với hoạt động bán buôn, phân phối và các đại lý bán lẻ, có giấy phép nhưng việc cấp phép, quản lý bán lẻ rượu trực tiếp đến người tiêu dùng tại chỗ theo quy định của Nghị định số 105/2017/NĐ-CP còn nhiều khó khăn. Bất cứ địa điểm, cơ sở nào cũng sẵn có rượu, bia để bán cho người dân như: Các quán rượu, siêu thị, cửa hàng tạp hoá, khách sạn, cơ sở kinh doanh ăn uống, quán nước vỉa hè, căng tin của các cơ quan, doanh nghiệp… Thời gian bán, số lượng rượu bán để uống tại chỗ không bị hạn chế. Điều này làm cho rượu, bia ở Việt Nam sẵn có và dễ tiếp cận.
 
Hoạt động quảng cáo, khuyến mại, tài trợ bia vẫn chưa được kiểm soát bằng các quy định pháp luật; quảng cáo, bán rượu, bia trên mạng xã hội nhiều, chưa có biện pháp hạn chế đối với trẻ em, thanh thiếu niên; quảng cáo bia diễn ra phổ biến, tần xuất cao, quảng cáo nhiều trong các giờ vàng, buổi tối trên sóng truyền hình, phát thanh. Thực trạng này đã dẫn đến việc quảng bá, thúc đẩy sử dụng rượu, bia và gia tăng số thanh thiếu niên sử dụng rượu, bia.
“Việc phòng chống tác hại của rượu, bia là một yêu cầu cần thiết phải được Nhà nước và xã hội quan tâm giải quyết với các biện pháp đồng bộ, toàn diện, trong đó có việc ban hành Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia. Việc ban hành Luật với các biện pháp mạnh mẽ sẽ góp phần hạn chế gánh nặng do tác hại của rượu, bia gây ra đối với cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội để bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước”, Bộ trưởng Bộ Y tế lý giải về sự cần thiết xây dựng và ban hành Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia.
 
(Báo chinhphu.vn)
 
Phát hiện sớm sốt xuất huyết để tránh biến chứng suy nội tạng nguy hiểm
 
Với những biểu hiện bệnh giống nhau, sốt xuất huyết thường bị nhầm là sốt phát ban. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới suy nội tạng, thậm chí là tử vong do không được điều trị đúng hướng ngay từ đầu.
 
Trẻ em: Đối tượng dễ mắc sốt xuất huyết
 
Bắt đầu từ tháng 9, các tỉnh miền Nam đã bắt đầu bước vào mùa mưa. Độ ẩm trong không khí tăng cao là điều kiện lý tưởng để các loại muỗi sinh sôi, phát triển. Sốt xuất huyết - căn bệnh lây lan chủ yếu từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt cũng gia tăng trong thời điểm này.
 
Trước đây, sốt xuất huyết được tổ chức Y tế Thế giới coi là bệnh của trẻ em bởi 90% số ca mắc bệnh là trẻ dưới 15 tuổi. Thế nhưng, số liệu những năm gần đây cho thấy, tỷ lệ người lớn bị sốt xuất huyết cũng không hề nhỏ.
 
Tại sao trẻ nhỏ lại dễ mắc sốt xuất huyết hơn người lớn? Theo lý giải của các chuyên gia, do trẻ nhỏ hiếu động, thường chui vào chỗ tối chơi nên dễ làm “mồi” cho muỗi. Mặt khác, trẻ thường có thân nhiệt cao, cộng với đùa nghịch ra mồ hôi nhiều nên cũng dễ thu hút muỗi. Bản thân trẻ lại chưa có ý thức phòng vệ nên dễ bị muỗi đốt. Một nguyên nhân quan trọng khác nữa, đó là sức đề kháng của trẻ còn yếu, vì thế, dễ phát bệnh và dễ để lại biến chứng hơn.
 
Tại Việt Nam, mỗi năm bệnh viện trên cả nước tiếp nhận hàng chục ca suy gan, não, hô hấp, thận… cũng vì sốt xuất huyết. Riêng 8 tháng đầu năm nay đã có 13 trường hợp tử vong.
 
Dễ nhầm với sốt phát ban
 
Thực chất, sốt xuất huyết nếu phát hiện sớm và được điều trị đúng cách ngay ở giai đoạn đầu thì hoàn toàn có thể điều trị khỏi bệnh, tuy nhiên, triệu chứng của bệnh không đặc thù, dễ nhầm lẫn, dẫn tới tình trạng điều trị sai hướng. Theo bác sĩ Nguyễn Thu Hằng, Bệnh viện Nhi Trung ương: “Sốt xuất huyết có biểu hiện khá giống sốt phát ban nên nhiều người thường bị nhầm, coi nhẹ bệnh”. Cụ thể, theo bác sĩ Nguyễn Thu Hằng, sốt phát ban và sốt xuất huyết đều có biểu hiện đặc thù là sốt cao và xuất huyết ngoài da. Ngoài ra, cả hai loại sốt này còn gây ho, sổ mũi, mắt đỏ, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn và nôn. 
 
Thế nhưng, sốt xuất huyết thường sốt cao, liên tục, dù dùng thuốc hạ sốt cũng khó giảm nhiệt độ. Trong khi đó, sốt phát ban thì chỉ sốt từng cơn và có đáp ứng tốt với thuốc hạ sốt. Sốt xuất huyết cũng kèm theo chảy máu chân răng, tay chân lạnh, còn sốt phát ban lại có biểu hiện sưng hạch ở vùng đầu, mặt, cổ có thể sờ thấy và cảm thấy đau.
 
Dù có khá nhiều điểm khác nhau, thế nhưng, theo bác sĩ Nguyễn Thu Hằng, với những người bình thường, không có chuyên môn rất khó để nhận biết khi chỉ dựa vào các triệu chứng trên. Tuy nhiên, cách dễ dàng nhất để phân biệt đó là dùng tay căng phần da có chấm đỏ.
 
Nếu chấm đỏ này mất đi và xuất hiện lại sau khi buông tay thì đó là sốt phát ban. Trường hợp ngược lại, những ban đỏ vẫn xuất hiện thì đó chắc chắn là sốt xuất huyết. Với những người ít kinh nghiệm, cách tốt nhất là sau 2 ngày bị sốt, nhiệt độ không giảm lại kèm theo các biểu hiện li bì, mệt mỏi, buồn nôn, đi ngoài ra máu… thì cần đến bệnh viện sớm để thực hiện các xét nghiệm, phòng ngừa biến chứng.
 
Với sốt phát ban, sau khoảng 3-5 ngày, sốt sẽ hết, các ban đỏ cũng sẽ lặn và bệnh khỏi. Thế nhưng, sốt xuất huyết lại khác. Dù sốt cũng hết sau khoảng 3 ngày, nhưng đây mới là giai đoạn cảnh báo bệnh xuất hiện biến chứng. Giai đoạn này, người bệnh có thể bị sốc với các triệu chứng như: tiểu ít hoặc không tiểu, lạnh đầu các chi, da lạnh ẩm, đau phần gan, phù nề mí mắt, huyết áp thấp, thậm chí là không đo được huyết áp… 
 
Theo bác sĩ Nguyễn Thu Hằng, cho dù sốt xuất huyết hay sốt phát ban thì người bệnh cũng vô cùng mệt mỏi. Thế nên, để tăng cường sức đề kháng, người bệnh ngoài được nghỉ ngơi, ăn uống đủ chất (tuyệt đối không kiêng khem), còn phải tăng cường uống nước cam, chanh. Việc bù nước bằng dung dịch oresol hay hidrid… cũng không được bỏ qua, nhất là khi có dấu hiệu của tiêu chảy.
 
(Báo An ninh Thủ đô)
Khoa Truyền thông giáo dục sức khỏe
Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Thống kê
  • Đang truy cập59
  • Hôm nay1,950
  • Tháng hiện tại93,120
  • Tổng lượt truy cập4,904,231
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây