Điểm báo ngày 29/7/2018


 
Bác sĩ nếu có nổi tiếng là nhờ điều dưỡng chăm sóc người bệnh tốt
 
Trong hệ thống điều trị người điều dưỡng là người sát với bệnh nhân nhất, bác sĩ điều trị giỏi bệnh nhân ra viện cũng là nhờ công chăm sóc người bệnh của điều dưỡng.
 
Ngày 28/7 tại BV C Đà Nẵng, Bộ Y tế đã tổ chức hội nghị Điều dưỡng trưởng năm 2018 với chủ đề “Đổi mới chính sách điều dưỡng và dịch vụ chăm sóc hướng tới hài lòng người”.
 
Phát biểu khai mạc, GS.TS Nguyễn Viết Tiến- Thứ trưởng thường trực Bộ Y tế khẳng định, Điều dưỡng- Nữ hộ sinh (ĐD-NHS) là chuỗi mắt xích quan trọng trong quy trình khám, chữa bệnh.
 
Thứ trưởng Nguyễn Viết Tiến nhấn mạnh: Trong hệ thống điều trị, các BS cho rằng việc mình là quan trọng là những người chưa sát với thực tế, thậm chí là những người “vô ơn”, chưa đánh giá đúng về chức năng, nhiệm vụ của ngươi điều dưỡng. Bác sỹ nếu có nổi tiếng thì cũng là nhờ công chăm sóc người bệnh của điều dưỡng.
 
Bên cạnh đó, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến cũng chỉ ra những hạn chế của đội ngũ điều dưỡng như chưa tiếp cận với trang thiết bị hiện đại, trình độ hạn chế trong xu thế hội nhập hiện nay; việc tự chủ tài chính khiến các bệnh viện hạn chế tuyển dụng nhân lực điều dưỡng khiến quá tải công tác chăm sóc…
 
Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Y tế đã đề nghị ngành y tế, các cơ sở khám, chữa bệnh đổi mới về chính sách điều dưỡng, hệ thống quản lý điều dưỡng; Tăng cường số lượng và chất lượng nguồn nhân lực điều dưỡng, hộ sinh; Đổi mới phong cách thái độ phục vụ và cải tiến chất lượng chăm hướng tới sự hài lòng của người bệnh; Cập nhật, hoàn thiện quy trình chăm sóc người bệnh và tính chi phí thực hiện phù hợp.
 
PGS.TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục quản lý Khám, chữa bệnh cho biết, trong bộ 83 tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện có nhiều tiêu chí liên quan đến hoạt động của điều dưỡng, đặc biệt trong những tiêu chí hướng về người bệnh. Chăm sóc không tốt sẽ không có những thành quả điều trị, nâng cao chất lượng của hệ thống y tế.
 
Công tác tiếp xúc đầu tiên với người bệnh là điều dưỡng; theo nguyên lý YHGĐ điều dưỡng cũng là người tiếp xúc và quan tâm đến bệnh nhân nhiều nhất. Tuy nhiên thái độ của một số điều dưỡng gây bức xúc cho người bệnh, một số sai sót chuyên môn gây mất niềm tin cho người bệnh.
 
Do đó, phải đổi mới công tác điều dưỡng để thực hiện tốt 83 tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện với mục tiêu lấy người bệnh làm trung tâm: an toàn và hài lòng người bệnh. Tiến tới hệ thống khám chữa bệnh không còn hạng bệnh viện như hạng 1, hạng 2, hạng 3 hiện nay mà chỉ còn bệnh viện chất lượng. Nếu đạt dược tiêu chí chất lượng JCI các hãng bảo hiểm sẽ ký kết để thu hút bệnh nhân. BV nào chất lượng tốt sẽ đông bệnh nhân, điều kiện chăm sóc.
 
Theo số liệu của Bộ Y tế, hiện cả nước có trên 73.000 y bác sỹ làm trong công tác điều trị, gần 130.000 điều dưỡng, nữ hộ sinh công tác tại các cơ sở khám, chữa bệnh. Tỷ lệ ĐD-NHS/BS là 1,8. Tỷ số điều dưỡng trên 1 giường bệnh kế hoạch là 0,395 và giường bệnh thực kê là 0,304 thấp hơn rất nhiều so với quy định và các nước trong khu vực và trên thế giới.
 
Tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu của Cục Khoa học Công nghệ & đào tạo và Hội Điều dưỡng Việt Nam năm 2015 cứ 4 điều dưỡng ra trường thì chỉ có 1 điều dưỡng có cơ hội việc làm.
 
(Báo infonet.vn)
 
Cảnh báo tình trạng thiếu i-ốt
 
Trong khi khuyến cáo toàn cầu về phổ cập sử dụng muối i-ốt toàn dân là 90% thì Việt Nam chỉ có 45% số hộ gia đình đang sử dụng muối i-ốt, thấp hơn nhiều so mức khuyến cáo. Viện Dinh dưỡng quốc gia (Bộ Y tế) cho biết theo báo cáo của Mạng lưới iốt toàn cầu, Việt Nam đang nằm trong số 19 nước trên thế giới có tình trạng thiếu iốt nghiêm trọng nhất.
 
Hàm lượng i-ốt chưa đáp ứng đủ nhu cầu cơ thể
 
Theo kết quả điều tra của Bệnh viện Nội tiết trung ương năm 2013-2014 cho thấy tỷ lệ bướu cổ trẻ em từ 8-10 tuổi là 9,8%; tỷ lệ hộ gia đình sử dụng muối iốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh khoảng 60%, mức trung vị iốt niệu là 8,4mcg/dl. Đây là mức thấp nhất trong 10 năm qua. Đây là một thực tế đáng báo động về tình trạng thiếu hụt i-ốt ở Việt Nam.
 
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về thanh toán tình trạng thiếu i-ốt mà Việt Nam đã đạt được năm 2005 thì tỷ lệ bướu cổ trẻ em từ 8-10 tuổi nhỏ hơn 5% và mức trung vị iốt niệu lớn hơn hoặc bằng 10mcg/dl.  Các nghiên cứu của BV Nội tiết trung ương giai đoạn 2000-2010 đã chỉ rõ: Thực phẩm từ nuôi trồng tự nhiên ở các vùng miền nước ta đều có hàm lượng i-ốt không đáng kể nên chưa đáp ứng đủ nhu cầu cơ thể.
 
Nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng quốc gia năm 2010 cũng cho thấy chỉ có 6% số người được hỏi dùng duy nhất gia vị mặn là muối i-ốt và 75% còn lại sử dụng gia vị mặn từ các sản phẩm chế biến có muối như nước mắm, nước tương, bột canh...
 
Theo Viện Dinh dưỡng quốc gia, nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do giai đoạn trước năm 2005, Việt Nam thực hiện bắt buộc chương trình mục tiêu quốc gia bổ sung i-ốt. Tuy nhiên, ngay khi thanh toán được tình trạng thiếu i-ốt, quy định bắt buộc dùng bổ sung iốt bị bãi bỏ khiến độ bao phủ giảm đột ngột.
 
Bên cạnh đó, chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống bướu cổ không còn, thiếu ngân sách để cung cấp nguyên liệu i-ốt trộn vào muối... Vì vậy, người dân cũng chuyển dần từ sử dụng muối iốt sang các loại bột canh hay hạt nêm không chứa iốt. Thực tế, từ năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định về bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm, trong đó quy định bắt buộc phải bổ sung i-ốt vào thực phẩm. Quy định này có hiệu lực từ ngày 15-3-2017, tuy nhiên đến nay hầu như các doanh nghiệp vẫn chưa triển khai tốt.
 
Nguy hiểm
 
Viện Dinh dưỡng quốc gia khuyến cáo thiếu i-ốt sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như bướu cổ, thiểu năng tuyến giáp ảnh hưởng lớn đến phát triển, hoạt động của cơ thể, giảm khả năng lao động, mệt mỏi. Thiếu i-ốt ở trẻ em sẽ gây chậm phát triển trí tuệ, chậm lớn, nói ngọng...
 
Ở phụ nữ mang thai, thiếu iốt dễ dẫn đến sảy thai, thai chết lưu hoặc sinh non. Nếu mẹ thiếu i-ốt nặng trong giai đoạn mang thai trẻ sinh ra sẽ bị đần độn, câm, điếc và các dị tật bẩm sinh khác. Biểu hiện của tình trạng thiếu hụt iốt đơn giản chỉ là cảm giác người mệt mỏi, lờ đờ nên nhiều người không để ý.
 
Tình trạng thiếu i-ốt gây 5-10% trường hợp đần độn, 20-30% người mắc bệnh bướu cổ. Nhiều người bị thiếu năng lượng, giảm khả năng lao động, ảnh hưởng đến sức khỏe. Chính vì vậy, việc sử dụng gia vị có bổ sung i-ốt trong nấu ăn, chế biến thực phẩm hàng ngày là biện pháp hiệu quả và bền vững để phòng ngừa thiếu hụt iốt.
 
Theo WHO, điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ (MICS) năm 2011 chỉ ra rằng chỉ có 45% hộ gia đình ở Việt Nam đang sử dụng muối i-ốt, thấp hơn nhiều so với mức khuyến cáo toàn cầu về phổ cập sử dụng muối Iốt toàn dân là 90%. Gần 30% trẻ em dưới 5 tuổi và 37% phụ nữ mang thai bị thiếu máu. Thiếu hụt kẽm rất cao ở trẻ em (69%) và phụ nữ mang thai (80,3%). 
 
Thiếu sắt làm tăng nguy cơ tử vong mẹ, phát triển thai nhi kém, suy yếu phát triển nhận thức, vận động ở trẻ em cũng như giảm năng suất lao động ở người lớn. Thiếu kẽm làm tăng tỷ lệ mắc tiêu chảy, nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính và tử vong trẻ em. Theo đó, nhu cầu i-ốt ở trẻ em theo khuyến nghị là từ 90-120 mcg/ngày, người lớn khoảng 150 cmg/ngày.
 
Ông Lê Danh Tuyên- Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia, khẳng định i-ốt hóa muối ăn là giải pháp chiến lược của toàn cầu cũng như của Việt Nam. Tăng cường i-ốt vào thực phẩm thiết yếu đã được chứng minh là biện pháp đơn giản để bổ sung i-ốt nói riêng, vi chất dinh dưỡng nói chung trong bữa ăn hàng ngày. Ngoài muối i-ốt, các thực phẩm giàu iốt là các loại cá biển, rong biển, rau dền, rau cải xoong, tảo...
 
Bà Đỗ Hồng Phương - chuyên gia Chính sách dinh dưỡng của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) cho biết trong số 130 quốc gia trên toàn cầu quy định bắt buộc bổ sung i-ốt thì có 69 quốc gia (53%) yêu cầu sử dụng muối i-ốt cho thực phẩm chế biến. Các chuyên gia đã tiến hành nghiên cứu và công bố cho thấy không có sự thay đổi hữu cơ đáng kể nào với sản phẩm được sản xuất với muối bổ sung iốt (màu sắc, hương vị, cấu trúc). Ít nhất 100 quốc gia trên thế giới đã yêu cầu người dân sử dụng muối i-ốt để chế biến thực phẩm...
 
Cũng theo Bà Đỗ Hồng Phương, tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm có giá thành thấp nhất, chỉ 0,06 USD/người/năm nhưng lại có nhiều ưu điểm như thuận tiện, dễ áp dụng rộng rãi trong cộng đồng. Tuy nhiên để biện pháp này đạt hiệu quả thì doanh nghiệp chế biến thực phẩm cần thực hiện trách nhiệm xã hội, cùng với nhà nước đảm bảo sức khỏe cộng đồng. Doanh nghiệp sẽ thu hồi chi phí sản xuất từ việc tính chi phí để tăng cường vi chất vào giá thành sản phẩm. Giá thành sản phẩm muối iốt cũng tăng không đáng kể, ở mức mọi người đều có thể chấp nhận được.
 
Như vậy, người dân sẽ được thụ hưởng sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và có lợi cho sức khỏe... Việc bổ sung vi chất vào thực phẩm chế biến và các loại gia vị mặn, dầu ăn và bột mì, đã được toàn cầu ghi nhận và là một chiến lược hiệu quả với chi phí thấp để tăng lượng dưỡng chất vào cơ thể mà không cần phải thay đối thói quen ăn uống hoặc cần tới nguồn ngân sách lớn của quốc gia.
 
Ngày 7/6, tại Hà Nội, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Qũy Nhi đồng Liên hợp quốc đã kêu gọi Chính phủ Việt Nam và các cơ quan quản lý tăng cường thực hiện Nghị định 09/2016/ND-CP về việc bắt buộc tăng cường vi chất dinh dưỡng vào muối, bột mì, dầu ăn và sử dung muối i-ốt và bột mì đã bố sung vi chất trong chế biến thực phẩm.
 
Nghị định được ban hành trên cơ sở các bằng chứng khoa học về việc cần phải hành động để giải quyết vấn đề thiếu vi chất dinh dưỡng nghiêm trọng của người dân Việt Nam. WHO đã khuyến cáo toàn bộ muối ăn được dùng trong gia đình hay chế biến thực phẩm đều cần được tăng cường i-ốt như là chiến lược hiệu quả và an toàn để phòng ngừa và kiểm soát các rối loạn do thiếu i-ốt gây ra.
 
(Báo Đại đoàn kết)
 
Việt Nam sử dụng vắc xin bạch hầu - ho gà - uốn ván nội địa
 
Những ngày gần đây, thông tin vắc xin DPT phòng bệnh bạch hầu -ho gà - uốn ván do Công ty Changsheng Biotechnology, có trụ sở tại TP Trường Xuân (Cát Lâm, Trung Quốc) bị phát hiện vi phạm các tiêu chuẩn trong sản xuất vắc xin.
 
Công ty này đã bị cơ quan quản lý dược phẩm Trung Quốc thu hồi giấy phép sản xuất vắc xin phòng dại, tiến hành điều tra hình sự khiến người dân lo lắng bởi đây là loại vắc xin phổ biến ở nước ta để phòng bệnh.
 
Để làm rõ thực hư, Bộ Y tế đã có thông tin chính thức, khẳng định, vắc xin DPT sử dụng trong Chương trình tiêm chủng hiện nay do Việt Nam sản xuất. Do vậy, người dân có thể yên tâm cho con em mình đi tiêm chủng theo lịch.
 
Theo đó, sau khi kiểm tra và rà soát việc cấp giấy đăng ký lưu hành, giấy phép nhập khẩu vắc xin, đến nay chưa có sản phẩm vắc xin phòng bệnh dại ở người và vắc xin DPT (bạch hầu - ho gà - uốn ván) do Công ty Changsheng Biotechnology (Trung Quốc) sản xuất hoặc cung cấp được Bộ Y tế cấp giấy đăng ký lưu hành, giấy phép nhập khẩu để lưu hành tại Việt Nam.
 
Tính đến thời điểm này, Việt Nam đã sản xuất được 12 loại vắc xin, trong đó có DPT. Cũng như các vắc xin nhập khẩu, vắc xin nội địa phải trải qua nhiều công đoạn kiểm định, thử nghiệm, công bố kết quả và xin phép lưu hành.
 
(Báo Giáo dục và thời đại)
Phòng Thông tin báo chí
Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Thống kê
  • Đang truy cập32
  • Hôm nay277
  • Tháng hiện tại99,701
  • Tổng lượt truy cập4,397,068
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây