Điểm báo ngày 6/11/2018

 
Đào tạo bác sỹ chuyên sâu không thể như thạc sỹ, tiến sỹ
 
TS. Nguyễn Minh Lợi, Phó Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo (Bộ Y tế) đề xuất một số ý kiến về sửa đổi Luật Giáo dục đại học, trong đó nhấn mạnh cần quy định cụ thể về trình độ, văn bằng, gắn trách nhiệm của các cơ sở y tế đối với việc đào tạo nhân lực ngành y tế, nhất là trong bối cảnh mở trường, mở ngành trong đào tạo y tế nở rộ như hiện nay.
 
Chưa xác định rõ về trình độ và văn bằng
 
Khẳng định vẫn còn một số bất cập cần sửa đổi và quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học sẽ trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 6; TS. Nguyễn Minh Lợi, Phó Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo (Bộ Y tế), thành viên Tổ tư vấn đổi mới của Bộ Y tế cho biết: Với mục tiêu cuối cùng là người dân Việt Nam sẽ được hưởng một nền y tế tiên tiến với đội ngũ cán bộ y tế có chất lượng, đảm bảo hội nhập quốc tế; việc sửa đổi này có ý nghĩa rất lớn vì đây là cơ hội lịch sử, nếu không sẽ làm chậm sự phát triển và hội nhập quốc tế của Việt Nam thêm ít nhất là 10 năm nữa.
 
Theo TS. Nguyễn Minh Lợi, kết quả  các cuộc thảo luận và nghiên cứu dự thảo cho thấy vẫn còn một số vấn đề liên quan đến đào tạo nhân lực y tế mà Ban soạn thảo chưa thể hiện được tính nhất quán, đồng bộ trong đó có nội dung rất quan trọng của Luật là về trình độ và văn bằng giáo dục đại học.
 
Cụ thể, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, để trở thành bác sĩ hành nghề chuyên môn, sau khi hoàn thành chương trình đào tạo 6 năm ở trường đại học, người học còn phải đào tạo chuyên khoa, chuyên sâu và thường xuyên đào tạo cập nhật, phát triển nghề nghiệp. Nhưng trong thời gian 6 năm học tập để trở thành bác sĩ, không giống như các chương trình cử nhân khác, chương trình đào tạo bác sĩ bao gồm các hợp phần, nội dung thực hành và các giai đoạn trải nghiệm công việc trực tiếp tại các cơ sở y tế dựa trên các nền tảng lý thuyết. Y học là nhân học nên nội dung chương trình phức tạp hơn nhiều, thời gian dài hơn so với các chương trình cử nhân 4 năm, và thường có định hướng chuyên nghiệp và chuyên môn sâu hơn so với các chương trình cử nhân của các ngành khác.
 
Chương trình đào tạo và năng lực của chuyên khoa và chuyên khoa sâu (ở Việt Nam hiện nay là đào tạo chuyên khoa 1, chuyên khoa 2 và Nội trú) cũng khác hẳn chương trình và năng lực đầu ra của thạc sĩ, tiến sĩ. Theo hệ thống trình độ đào tạo và văn bằng của nhiều nước trên thế giới, thường theo hai định hướng đào tạo là hướng hàn lâm (academic) và hướng chuyên nghiệp (professional). Trong đó, đào tạo bác sĩ đi theo hướng chuyên nghiệp nhưng trình độ đào tạo và văn bằng giáo dục đại học (bác sĩ, dược sĩ chuyên khoa sâu gồm chuyên khoa 1, chuyên khoa 2); đối với những đối tượng này không thể hòa cùng với trình độ và văn bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Tuy nhiên, điều này chưa được thể hiện trong Dự thảo Luật, và rất cần thiết phải được đưa vào.
 
Đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo nhân lực ngành y tế, còn có những trình độ thuộc giáo dục đại học mà không phải là cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Cụ thể như các chương trình đào tạo bác sĩ, chuyên khoa, chuyên khoa sâu sau đào tạo bác sĩ chưa được xác định là tương đương với chương trình đào tạo của trình độ nào? Quy định ở đâu? Các chương trình đào tạo này không thể tương đương với chương trình cử nhân, thạc sĩ hay tiến sĩ vì đây là theo định hướng đào tạo chuyên sâu nên phải quy định trình độ cụ thể như các nước đã làm. Nếu không quy định về trình độ cụ thể cho đối tượng đào tạo nhân lực này trong Luật thì việc giao Chính phủ quy định về xác định chỉ tiêu, thời gian đào tạo… như ở Điều 73 của Dự thảo Luật chỉ làm rối hệ thống thêm mà không giải quyết được việc nâng cao chất lượng nhân lực ngành y tế.
 
Đây cũng là nội dung Bộ Y tế đã có ý kiến nhiều lần, để khắc phục có thể ghi rõ trong Điều 6 là "Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học quy định tại Luật này bao gồm trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ, trình độ chuyên gia", Điều 38 là "Văn bằng giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân gồm: bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ, bằng chuyên gia", và quy định tại Điều 73 là "...trình độ, văn bằng, chứng chỉ đào tạo chuyên gia phù hợp"...
 
Không để chậm thêm 10 năm
 
TS. Nguyễn Minh Lợi cũng cho rằng: Không chỉ vấn đề trình độ, văn bằng, Luật sửa đổi một số điều của Luật Giáo dục đại học cũng còn một số nội dung cần làm rõ thêm như: Về phân loại cơ sở giáo dục đại học, theo quy định tại Khoản 4, Điều 7 xác định Cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu hoặc Cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng... điều đáng lo ngại là các cơ sở giáo dục đại học chuyên về lĩnh vực y tế không biết sẽ xác định đi theo định hướng nào vì trong đào tạo y khoa là đào tạo song song theo cả hai hướng hàn lâm và chuyên nghiệp. Vì vậy cần xem lại quy định này có khả thi không trong khi việc phân tầng các cơ sở giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu và ứng dụng theo Luật Giáo dục đại học 2012 đã không triển khai được trong thực tiễn.
 
Về quản lý nhà nước, quản trị và tự chủ giáo dục đại học, trong dự thảo Luật có tới 10 cụm từ "cơ quan có thẩm quyền", cần làm rõ đó là cơ quan hay những cơ quan cụ thể nào? Luật cũng cần có những quy định về vai trò của các cơ quan chuyên ngành, đặc biệt là ngành y tế vì quá trình học tập là gắn liền với các cơ sở y tế, đòi hỏi phải tuân thủ các quy định chuyên môn theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm, Luật Dược... Các quy định về chuẩn chương trình, kiểm định chất lượng, tổ chức đào tạo, giảng viên phải vừa phù hợp với nguyên lý giáo dục vừa phù hợp với yêu cầu chuyên môn để không ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế. Nếu không quy định rõ, sinh viên sẽ chỉ được học chay, không gắn trách nhiệm của các cơ sở y tế với việc tham gia đào tạo (vì đó không phải là nhiệm vụ chính của họ)... điều này dễ dẫn đến những hậu quả đáng lo ngại, nhất là trong bối cảnh mở trường, mở ngành trong đào tạo y tế nở rộ như hiện nay.
Cũng theo TS. Nguyễn Minh Lợi, vấn đề đào tạo nhân lực y tế là vấn đề liên ngành quy định về đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì theo Luật Giáo dục đại học; hoạt động chuyên môn y tế do Bộ Y tế chủ trì theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh và các luật chuyên ngành; tài chính (chi phí cho đào tạo, thù lao cho giảng viên và người học tại bệnh viện...) do Bộ Tài chính chủ trì theo Luật về giá, Luật về phí... Chính vì vậy, cần được thể chế hóa một cách rõ ràng, hướng tới mục tiêu cuối cùng là người dân được hưởng nền y tế có đội ngũ nhân lực được đào tạo bài bản, có chất lượng, xây dựng pháp luật là để phục vụ đời sống kinh tế- xã hội chứ không phải phục vụ cho cá nhân, bộ ngành nào. Nếu không sửa đổi cho phù hợp thì ít nhất 10 năm nữa mới có thể xem xét lại, và như vậy hệ thống y tế có nguy cơ sẽ có những thế hệ đào tạo không đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, chưa thể hội nhập.
 
(Báo Tin tức)
 
Thương hiệu cho vắc xin Việt Nam - Bài 2: Triển vọng xuất khẩu
 
Những nỗ lực của Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế (IVAC) trong việc tự sản xuất vắc xin cúm trong nước sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho người dân, mà còn giúp tăng nguồn cung ứng vắc xin cúm trong khu vực và trên thế giới. Những thành công trong sản xuất vắc xin đang mở ra hướng xuất khẩu cho vắc xin “made in Việt Nam”.
 
Tiến tới sản xuất vắc xin “5 trong 1”
 
Trong khi các nguồn phát triển và sản xuất vắc xin cúm của thế giới tập trung chủ yếu ở một số lượng hạn chế các nhà sản xuất, việc sản xuất vắc xin toàn cầu hiện không đáp ứng được nhu cầu sử dụng, thì nhiều quốc gia có thu nhập trung bình và thấp không thể tiếp cận được với vắc xin. Sự tham gia của nhiều nhà cung cấp vắc xin cúm như IVAC là việc rất quan trọng để giải quyết một cách bền vững sự thiếu hụt này.
 
Không chỉ vắc xin cúm mùa, ông Lê Văn Bé- Viện trưởng IVAC chia sẻ thêm, đơn vị này cũng đang thực hiện dự án “Nghiên cứu sản xuất vắc xin  phối hợp 5 trong 1 hấp thụ, dạng dung dịch”. Viện dự kiến sẽ tự sản xuất được vắc xin 5 trong 1 (phòng các bệnh: bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B và Hib). Hiện việc nghiên cứu vắc xin này đang trong giai đoạn nghiên cứu trên động vật và chuẩn bị phối trộn. Cùng với đó, còn có vắc xin bại liệt bất hoạt, do Trung tâm Nghiên cứu sản xuất vaccine và Sinh phẩm y tế thực hiện. Hiện Trung tâm đã được thử nghiệm trên 60 người lớn khỏe mạnh và trẻ từ 2 tháng tuổi. Kết quả cho thấy, không có bất cứ phản ứng phụ nghiêm trọng nào. Ngoài ra còn có vắc xin viêm não Nhật Bản trên tế bào Vero do Công ty TNHH MTV vaccine và Sinh phẩm số 1 (VABIOTECH) đã và đang thực hiện từ năm 2015-2019. Vắc xin đã thử nghiệm lâm sàng ở giai đoạn 3 và được đánh giá đạt tính an toàn trên người tình nguyện. Hiện Công ty đang chuẩn bị hồ sơ xin đăng ký lưu hành tại Việt Nam. Thời gian tới, Công ty tiếp tục thử nghiệm lâm sàng đánh giá mức độ tồn lưu kháng thể ở thời điểm 12 tháng-  sau khi tiêm 2 mũi vắc xin và hiệu quả của liều tiêm nhắc lại (liều 3) vắc xin viêm não Nhật Bản; đồng thời hoàn thiện quy trình nhân nuôi tế bào để sản xuất vắc xin viêm não Nhật Bản ở quy mô 1-2 triệu liều/năm.
 
Theo Bộ Y tế, các chuyên gia kỳ vọng có thể hoàn thành sản xuất vắc xin 5 trong 1 vào năm 2020. Cùng với đó đang đặt hàng các nhà khoa học để nghiên cứu, sản xuất vắc xin viêm phổi do phế cầu và vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung.
 
Trên thế giới hiện ghi nhận 30 bệnh đã có vắc xin. Việt Nam là 1 trong 42 quốc gia sản xuất được vắc xin phòng bệnh, với 10 loại vắc xin đã được sản xuất trong nước. Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2024 sẽ sản xuất được 12 loại vắc xin, đến năm 2030 có 14 loại vắc xin. Tuy nhiên, việc sản xuất vắc xin còn gặp nhiều khó khăn. Hiện có 7 dự án đã được phê duyệt nhưng chưa có kinh phí để triển khai.
 
Chính vì vậy, việc nâng cao công nghệ để tự sản xuất được các loại vắc xin hỗn hợp là yêu cầu hết sức cần thiết và cấp bách trong giai đoạn sắp tới. “Vấn đề nghiên cứu ứng dụng công nghệ ở trình độ cao để có thể chủ động cung ứng từng loại vắc xin đang là một thách thức, đòi hỏi các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp cần có giải pháp phù hợp. Bởi hiện khó khăn lớn nhất là sự phối hợp giữa các tổ chức khoa học công nghệ và doanh nghiệp chưa nhịp nhàng, chặt chẽ. Các đơn vị chưa có sự kết hợp để nghiên cứu, đưa ra những sản phẩm chất lượng và an toàn nhất”- ông Nguyễn Văn Liễu, Vụ trưởng Vụ KHCN các ngành Kinh tế - Kỹ thuật, Bộ KHCN khuyến nghị.
 
Tiềm năng 
 
Vắc xin cúm mùa “made in Việt Nam” được sản xuất thành công không chỉ góp phần tăng cường công tác phòng, chống dịch cúm mà còn đưa Việt Nam trở thành 1 trong 10 nước đang phát triển có thể sản xuất được vắc xin phòng cúm trong tương lai. Tại Hội thảo khoa học triển vọng nghiên cứu phát triển vắc xin phòng bệnh cho người ở Việt Nam diễn ra mới đây, GS.TS Nguyễn Thanh Long - nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế vui mừng thông báo vắc xin cúm mùa do Việt Nam sản xuất thành công đã có đơn hàng đầu tiên của WHO.
 
Theo GS.TS Nguyễn Thanh Long, Việt Nam là 1 trong 14 quốc gia được Tổ chức Y tế thế giới đặt hàng cơ sở sản xuất vắc xin cúm mùa phục vụ phòng chống đại dịch trên thế giới. Đáng nói, giá thành vắc xin cúm mùa “3 trong 1” do  Việt Nam sản xuất rẻ chỉ bằng khoảng 1/3 giá thành vắc xin cúm mùa nhập khẩu, với chi phí 80.000-120.000 đồng/liều.
 
Trước khi sản xuất thành công 2 loại vắc xin cúm mới công bố, Việt Nam đã sản xuất thành công nhiều loại vắc xin như: vắc xin lao, sởi, rubella, rota, tả, thương hàn, bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi-rubella… Mới đây nhất, đầu tháng 4/2018 Việt Nam chính thức đưa vắc xin sởi-rubella do Việt Nam sản xuất vào chương trình tiêm chủng mở rộng, dùng tiêm chủng miễn phí cho trẻ 18 tháng tuổi tại các điểm tiêm chủng xã phường, thay thế loại của Ấn Độ. Đến nay, đã có 19 tỉnh, thành triển khai. 50.000 trẻ đã được tiêm và chưa ghi nhận trường hợp phản ứng nặng nào.
 
Thành công này đã giúp Việt Nam trở thành một trong 25 quốc gia trên thế giới và là nước thứ 4 tại châu Á sản xuất thành công vắc xin sởi-rubella, sau Nhật Bản, Ấn Độ và Trung Quốc.
 
Trước đó, từ tháng 6/2015 WHO chính thức công nhận Việt Nam đã có một hệ thống quản lý vắc xin quốc gia được trang bị đầy đủ để đảm bảo sự an toàn và hiệu quả của vắc xin do Việt Nam sản xuất và sử dụng. Theo GS.TS Nguyễn Thanh Long, Việt Nam đã được WHO công nhận về hệ thống quản lý về vắc xin, có nghĩa chúng ta đã sánh ngang các nước phát triển trên thế giới cũng đạt tiêu chuẩn này. Điều này có nghĩa vắc xin của Việt Nam được thế giới thừa nhận, có thể xuất khẩu sang các nước tiên tiến trên thế giới, thậm chí cung cấp vắc xin cho Liên minh toàn cầu về vắc xin để sử dụng.
 
Còn nhiều thách thức
 
Dù đạt được nhiều thành tựu trong sản xuất vắc xin song vẫn phải khẳng định Việt Nam mới chỉ chủ yếu sản xuất được các vắc xin đơn lẻ. Một số vắc xin “5 trong 1” và “6 trong 1” vẫn chưa thể thực hiện được do những khó khăn nhất định về công nghệ, vốn. Ông Đỗ Tuấn Đạt- Giám đốc Trung tâm VABIOTECH cho hay, dù có triển vọng về xuất khẩu vắc xin song việc xuất khẩu những sản phẩm vắc xin trên mới chỉ dừng lại với quy mô nhỏ lẻ, chưa tạo ra được giá trị thương mại cao. Do chưa sản xuất được vắcxin tổng hợp nên thời gian vừa qua việc khan hiếm vắc xin dịch vụ trở nên trầm trọng khiến số trẻ chưa được tiêm phòng đúng lịch chiếm tỷ lệ cao. Tình trạng khan hiếm vắc xin khiến nhiều người dân nghĩ tới việc mua vắc xin “xách tay”, hoặc đưa con sang nước ngoài tiêm phòng. Cả hai biện pháp này đều tốn kém kinh phí, chưa kể việc tiêm vắc xin “xách tay” lại tiềm ẩn nhiều rủi ro tới sức khỏe của trẻ.
 
Phân tích từ các chuyên gia cũng cho thấy, Việt Nam đang trải qua giai đoạn nước có thu nhập trung bình, người dân chưa hoàn toàn tin tưởng vào vắc xin được sản xuất trong nước. Một bộ phận còn có tâm lý, thói quen sính ngoại. Do vậy vắc xin của Việt Nam tự sản xuất ra hiện chủ yếu phục vụ Chương trình tiêm chủng mở rộng, 100% miễn phí từ ngân sách nhà nước.
 
Còn theo TS Nguyễn Ngô Quang- Phó Cục trưởng Cục KHCNĐT (Bộ KHCN), quá trình nghiên cứu và sản xuất vắc xin cũng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Bởi quy trình nghiên cứu, sản xuất cho ra một sản phẩm vắc xin cần thời gian dài, đầu tư lớn về kinh phí và con người. Công nghệ sản xuất vắc xin luôn nằm trong nhóm ứng dụng những công nghệ tiên tiến nhất của thế giới, đòi hỏi máy móc thiết bị công nghệ cao, đầu tư lớn. Công nghệ sản xuất vắc xin thay đổi nhanh nhưng cơ chế của Việt Nam khó thực hiện.
 
(Báo Đại đoàn kết)
 
Dịch sốt xuất huyết có xu hướng gia tăng
 
Ngày 5-11, theo báo cáo của Sở Y tế Hà Nội về tình hình dịch bệnh, trong tuần (từ ngày 29-10 đến 4-11) trên địa bàn thành phố ghi nhận 312 trường hợp mắc sốt xuất huyết. Như vậy, từ đầu năm 2018 đến nay, thành phố đã có 2.338 trường hợp mắc sốt xuất huyết (giảm hơn 93% so với năm 2017).
 
Bệnh nhân phân bố rải rác tại 348 xã, phường, thị trấn của 30 quận, huyện, thị xã và không có người tử vong. Tuy nhiên, dịch bệnh sốt xuất huyết có xu hướng gia tăng trong các tuần gần đây. Theo chu kỳ, số mắc sốt xuất huyết thường gia tăng vào thời điểm từ tháng 9 đến tháng 11 hằng năm.
 
Vì vậy, các quận, huyện, thị xã cần tiếp tục tăng cường vệ sinh môi trường, diệt bọ gậy để chủ động phòng chống dịch, đặc biệt với các quận như Cầu Giấy, Đống Đa, Hoàng Mai, Nam Từ Liêm và các huyện Thanh Trì, Thanh Oai, Hoài Đức...
 
Ngoài ra, tuần qua, Hà Nội ghi nhận thêm 42 trường hợp mắc tay chân miệng, 6 trường hợp mắc sởi, nâng tổng số ca tay chân miệng từ đầu năm đến nay lên 1.937 trường hợp và số ca mắc sởi là 436 trường hợp.
 
(Báo Hà nội mới)
Khoa Truyền thông giáo dục sức khỏe
 
 
Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Thống kê
  • Đang truy cập39
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm38
  • Hôm nay1,720
  • Tháng hiện tại328,337
  • Tổng lượt truy cập7,849,875
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây