Điểm báo ngày 7/8/2018

 

Không chủ quan với nhiễm khuẩn bệnh viện
 
Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian người bệnh điều trị tại bệnh viện và nhiễm khuẩn này không hiện diện cũng như không nằm trong giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện. Ở Việt Nam với tỉ lệ gần 8% bệnh nhân bị NKBV mang lại nhiều nguy cơ trong điều trị, tăng gánh nặng chi phí.
 
Gánh nặng đối với người bệnh
 
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến cho biết, NKBV đã và đang là gánh nặng cho người bệnh, các cơ sở khám, chữa bệnh trên toàn cầu, đặc biệt ở các nước chậm và đang phát triển do làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện, tăng sử dụng kháng sinh, tăng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn và tăng chi phí điều trị.
 
Tỷ lệ NKBV ở các nước phát triển khác nhau dao động trong khoảng 3,5% - 12%. Phân tích gần đây của WHO cho thấy các ca NKBV ở các nước đang phát triển thường xảy ra với tần suất cao hơn do hạn chế nguồn lực so với các nước phát triển.
 
ThS Trần Hữu Luyện- Phó Chủ tịch Hội Kiểm soát nhiễm khuẩn Thừa Thiên - Huế cho biết, NKBV tại Việt Nam làm tăng gấp 2-3 lần thời gian nằm viện và tăng gấp 2 lần chi phí điều trị trực tiếp. Đáng báo động là nhiễm khuẩn do vi khuẩn đa kháng A.baumannii, K.pneumoniae... gặp ở 19%-31% nhiễm khuẩn ở bệnh nhân có phẫu thuật, trong đó là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong ở 5%-10% người bệnh mắc NKBV. “Tỷ lệ nhân viên y tế tuân thủ các quy trình Kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) trong chăm sóc người bệnh nói chung và người bệnh phẫu thuật nói riêng thường chỉ đạt tỷ lệ 50%-70%. Tỷ lệ người bệnh được sử dụng liều kháng sinh dự phòng đúng trước phẫu thuật chỉ đạt 10-20%”, bác sĩ Luyện cho hay.
 
Bên cạnh đó, tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu chiếm khoảng 25% số người bệnh mắc NKBV, trong đó 80% liên quan đến đặt thông tiểu dẫn lưu bàng quang. Tỷ lệ vệ sinh tay ở nhân viên y tế dù đã tốt hơn trước nhưng cũng chỉ dao động từ 30-40%.
 
Tháng 3 vừa qua, 200 đơn vị đã ký cam kết triển khai thực hiện các giải pháp tăng cường KSNK, phòng ngừa lây nhiễm bệnh trong bệnh viện. Công tác KSNK đã đạt được những thành tích đáng khích lệ về chính sách; về tổ chức hệ thống; hoạt động KSNK được triển khai thực hiện với chất lượng ngày càng cao tại hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh. “Bước đầu các bệnh viện thực hiện giám sát ca bệnh NKBV, giám sát tuân thủ vệ sinh tay, giám sát tuân thủ các quy trình KSNK, giám sát vi sinh vật gây NKBV và kháng kháng sinh, từng bước chuẩn hóa công tác khử khuẩn, tiệt khuẩn, tăng cường vệ sinh bệnh viện, chủ động phòng chống bệnh dịch...”, Thứ trưởng Nguyễn Viết Tiến nói.
 
Tuy nhiên công tác KSNK của Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều thách thức. Trong đó, vai trò của người làm công tác y tế cũng chưa được quy định rõ về trách nhiệm trong thực hiện KSNK. Một số người đứng đầu cơ sở khám chữa bệnh hiện nay vẫn chưa thật sự hiểu hết vai trò, tầm quan trọng của công tác KSNK, do vậy việc đầu tư nguồn lực cho hoạt động KSNK chưa phù hợp và hiệu quả. Nhân lực giám sát chuyên trách KSNK thiếu ở hầu hết các bệnh viện. Đa số nhân viên phụ trách công tác giám sát NKBV chưa được đào tạo do vậy chưa thực hiện được giám sát chủ động, liên tục các loại NKBV thường gặp và giám sát các vi khuẩn đa kháng kháng sinh.
 
Bên cạnh đó, nguồn lực cho KSNK còn hạn hẹp, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác KSNK tại nhiều bệnh viện chưa được quan tâm đầu tư đúng quy định. Công tác KSNK tại các bệnh viện tập trung nhiều vào giặt là, hấp sấy, quản lý chất thải mà chưa chú trọng vào công tác giám sát bao gồm giám sát tuân thủ thực hành KSNK và giám sát tỷ lệ NKBV.
 
Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện
 
Tới đây, ngành y tế sẽ tiếp tục tăng cường ứng dụng nhiều kỹ thuật cao trong chẩn đoán, điều trị như phát triển nội soi, phẫu thuật tim mạch, ghép bộ phận cơ thể người, ghép tế bào gốc… Các chuyên khoa hệ nội, ngoại, sản, nhi, truyền nhiễm nay đã có sự phát triển thành các lĩnh vực chuyên môn sâu, triển khai nhiều kỹ thuật đòi hỏi phải vô khuẩn cao. Sự phát triển đó đòi hỏi công tác KSNK phải được tăng cường, phát triển tương xứng, nhằm hạn chế tới mức thấp nhất NKBV, bảo đảm an toàn cho người bệnh và nhân viên y tế.
 
PGS.TS Nguyễn Viết Tiến nhấn mạnh, Thông tư Quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám chữa bệnh thay thế Thông tư số 18/2009/TT-BYT sẽ có nhiều nội dung đổi mới, quy định cụ thể về công tác KSNK tại các bệnh viện.
 
Theo đó, về hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn, các cơ sở khám chữa bệnh có từ 150 giường bệnh trở lên phải có đầy đủ hội đồng, khoa/bộ phận và mạng lưới KSNK; các cơ sở khám chữa bệnh có dưới 150 giường bệnh tối thiểu phải có bộ phận KSNK thuộc phòng kế hoạch tổng hợp, có mạng lưới KSNK và có người phụ trách KSNK làm việc toàn thời gian; cơ sở khám chữa bệnh không có giường bệnh nội trú tối thiểu phải phân công một người phụ trách KSNK.
 
Thông tư cũng quy định rõ trách nhiệm của Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở khám chữa bệnh. Thông tư cũng đưa ra các yêu cầu đào tạo của lãnh đạo khoa/người phụ trách KSNK, người làm giám sát chuyên trách, khử khuẩn, tiệt khuẩn. 
 
(Báo Đại đoàn kết)
 
Khoảng 0,75% dân số Việt Nam bị động kinh, cao hơn trung bình thế giới
 
"Khoảng 0,5% dân số thế giới bị động kinh; còn ở Việt Nam, tỷ lệ này là 0,49 - 0,75%”, GS.TS Lê Quang Cường (Thứ trưởng Bộ Y tế) cho biết tại Hội thảo Quốc tế chống động kinh vừa diễn ra tại Bệnh viện Việt Đức (Hà Nội).
 
GS.TS Lê Quang Cường, Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết: "Trong một nghiên cứu mới đây, tỷ lệ mắc động kinh ở Việt Nam tương đương tỷ lệ bệnh nhân mắc động kinh ở châu Âu, tức là có khoảng 4,9 hoặc 7,5/1.000 người (0,49 - 0,75%) bị động kinh, tùy từng vùng.
 
Trong số đó, có khoảng 70% người bệnh khống chế được cơn động kinh do được chẩn đoán đúng và điều trị hợp lý, còn lại là những người bị động kinh kháng trị. Điều này khiến việc điều trị động kinh vẫn là một thách thức lớn đối với các bác sỹ".
 
Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), động kinh chiếm 1% gánh nặng về kinh tế thế giới do các bệnh gây ra, tương tự như ung thư phổi ở đàn ông hay ung thư vú ở phụ nữ.
 
Nếu không được điều trị, động kinh sẽ gây tàn phế và những hệ lụy lâu dài cho người bệnh và người thân của họ.
 
Động kinh mà dân gian vẫn thường gọi là giật kinh phong, là một bệnh lý xảy ra do sự bất thường trong não bộ dẫn tới sự kích thích đồng thời một nhóm các tế bào thần kinh của vỏ não (chất xám), gây ra sự phóng điện đột ngột và không thể kiểm soát.
 
Điều này làm xuất hiện các cơn co giật lặp đi lặp lại nhiều lần với những thay đổi từ cảm giác và mất ý thức tạm thời từ nhận thức đến hành vi vận động. Các cơn co giật của động kinh thường xuất hiện một cách đột ngột, lặp lại theo chu kỳ, giữa các lần xảy ra đều có đặc điểm tương đối giống nhau.
 
Bệnh có thể gặp ở mọi đối tượng, nhưng thường gặp nhất ở trẻ em từ sơ sinh đến 12 tuổi và người lớn trên 65. Với một số dạng động kinh, nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, bệnh vẫn có khả năng kiểm soát được, ngoài ra còn có thể hạn chế được những cơn co giật cho người bệnh.
 
Ngày nay, ngày càng có nhiều bệnh nhân không thể khống chế cơn động kinh bằng thuốc, điều trị động kinh từ việc chẩn đoán, điều trị nội khoa bằng việc phối hợp thuốc cho tới phẫu thuật cắt bỏ ổ gây động kinh trong những bệnh nhân kháng thuốc là một trong những giải pháp đang được áp dụng ở các nước phát triển và cho kết quả khả quan.
 
(Báo VTC)
Phòng Thông tin báo chí
Thăm dò ý kiến

Theo bạn, giao diện Cổng thông tin điện tử của Sở Y tế Hà Nội?

Liên kết
Thống kê
  • Đang truy cập23
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm22
  • Hôm nay248
  • Tháng hiện tại99,672
  • Tổng lượt truy cập4,397,039
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây