Khuyến nghị để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Thứ tư - 25/09/2019 05:03
Nghiên cứu “Những rào cản trong tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và kế hoạch hóa gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam” được Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc phối hợp với Bộ Y tế hỗ trợ và đề xuất phạm vi nghiên cứu. Nghiên cứu được Trung tâm nghiên cứu của Trường Đại học Toronto, Canada và Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong tại Hà Nội thực hiện năm 2017.
228
Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số. (Dương Ngọc)
 
4600 phụ nữ dân tộc thiểu số (DTTS) ở 60 xã của 6 tỉnh ở Tây Nguyên và vùng Trung du và Miền núi phía bắc Việt Nam đã tham gia nghiên cứu (3 tỉnh miền núi phía bắc là Bắc Kạn (6 xã), Lai Châu (16 xã), Sơn La (16 xã); 3 tỉnh ở Tây Nguyên là Kon Tum (8 xã), Gia Lai (9 xã) và Đắk Nông (5 xã). Trong đó có hơn 100 DTTS tham gia thảo luận nhóm tập trung; phỏng vấn sâu các cán bộ y tế, các trưởng thôn và trưởng bản.
 
Nghiên cứu cho thấy sự bất bình đẳng tồn tại ở tất cả các nhóm DTTS so với các số liệu toàn quốc. Sự khác biệt lớn nhất là tỷ lệ sử dụng dịch vụ chăm sóc thai sản (khám thai ít nhất 4 lần), tỷ lệ phụ nữ sinh con tại các cơ sở y tế, tỷ lệ các ca sinh có sự hỗ trợ của cán bộ y tế được đào tạo chuyên môn và các nội dung cụ thể của dịch vụ chăm sóc thai nghén. Sự bất bình đẳng cũng tồn tại về chăm sóc thai nghén đối với chỉ tiêu khám thai ít nhất một lần, mặc dù ở mức độ thấp hơn so với bốn chỉ số nói trên.
 
Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo rằng tất cả phụ nữ mang thai cần được khám thai ít nhất 4 lần trước khi sinh, với lần khám đầu tiên diễn ra trong 3 tháng đầu mang thai (<16 tuần tuổi thai). Các đợt khám thai giúp cho việc lập kế hoạch trước khi sinh và sinh con an toàn với sự hỗ trợ của nhân viên y tế có chuyên môn. Các đợt khám thai trước sinh giúp những phụ nữ có thai ở các vùng nông thôn có cơ hội tiếp cận các cơ sở y tế chính thống bởi vì nếu không đi khám thai những phụ nữ có thai này có thể sẽ không tìm kiếm dịch vụ đỡ đẻ của người có chuyên môn trong khi sinh. Thông qua việc phụ nữ có thai sử dụng dịch vụ khám thai, các nhân viên y tế có thể khuyến khích và thúc đẩy những phụ nữ có thai thực hiện các hành vi và thói quen tốt khác như khám sức khỏe sau khi sinh, tiêm chủng, thực hành cho con bú đúng cách và sử dụng dịch vụ và các biện pháp KHHGĐ.
 
Thực tế nghiên cứu cho thấy những khác biệt lớn trong tỷ lệ tiếp cận dịch vụ chăm sóc thai sản. Nhìn chung, tỷ lệ phụ nữ DTTS được khám thai ít nhất một lần trong khi mang thai là 73%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của quốc gia là 96%. Chỉ có 16% phụ nữ DTTS được khám thai 04 lần trở lên so với mức trung bình của quốc gia là 74%. Như vậy sự khác biệt của hai chỉ số lần lượt là 23 và 58 điểm phần trăm.
 
Tỷ lệ khám thai trong 3 tháng đầu mang thai là thấp nhất so với các giai đoạn sau của quá trình mang thai: 42% phụ nữ DTTS khám thai trong 3 tháng đầu, trong khi tỷ lệ khám thai ở 3 tháng giữa và 3 tháng cuối lần lượt là 55% và 51%.
 
Tỷ lệ sinh con tại cơ sở y tế giữa những phụ nữ DTTS tham gia trong nghiên cứu thấp hơn ước tính quốc gia là 53 điểm phần trăm (41% so với 94%). Tỷ lệ các ca đẻ có sự hỗ trợ của cán bộ y tế có trình độ chuyên môn thấp hơn 45 điểm phần trăm giữa những phụ nữ DTTS tham gia nghiên cứu so với ước tính quốc gia (49% so với 94%). Tỷ lệ phụ nữ DTTS tham gia nghiên cứu được chăm sóc đầy đủ các nội dung trước khi sinh, cụ thể là 44% phụ nữ được đo huyết áp, 30% được xét nghiệm nước tiểu ít nhất một lần và 25% đã được lấy mẫu máu. Tỷ lệ nhận cả 03 dịch vụ trên là 18% (so với trung bình toàn quốc là 56%). Kết quả cho thấy chỉ có một số ít phụ nữ đã được nhận gói chăm sóc thai sản thiết yếu trong quá trình mang thai. Tỷ lệ nhận dịch vụ dự phòng trước sinh cao hơn, gồm phòng ngừa uốn ván (68%), bổ sung sắt và axit folic (54%), dự tính ngày sinh (58%). Tỷ lệ nhận các nội dung khác của chăm sóc trước sinh đều dưới 50%, gồm tư vấn dinh dưỡng và vệ sinh (45%), cảnh báo các dấu hiệu nguy hiểm (39%), khám lâm sàng (30%), đo chiều cao và cân nặng trong thai kỳ (40%), chẩn đoán, điều trị và dự phòng sốt rét (8%).
 
Vì nguy cơ tử vong mẹ là cao nhất ngay sau khi sinh và trong vòng 24-48 giờ sau khi sinh, nên sự có mặt nhân viên y tế có trình độ chuyên môn trong khi sinh là một can thiệp quan trọng để ngăn ngừa tử vong cho mẹ và trẻ sơ sinh. Đỡ đẻ an toàn đòi hỏi một người đỡ đẻ đã được đào tạo về chuyên môn (nữ hộ sinh, bác sĩ hoặc điều dưỡng), một môi trường thuận lợi (đầy đủ thuốc, thiết bị, hệ thống chuyển tuyến và chính sách) và sự chấp nhận của cộng đồng đối với các dịch vụ chăm sóc thai sản.
 
So sánh các kết quả nghiên cứu với ước tính quốc gia cho thấy sự khác biệt lớn tương ứng với 53 điểm phần trăm trong tỷ lệ các ca sinh tại các cở sở y tế. Nhìn chung, 58% phụ nữ đã sinh con cuối cùng tại nhà, trong khi 41% sinh con cuối cùng tại một cơ sở y tế (so với tỷ lệ trung bình toàn quốc là 94%). Trong số tất cả những người phụ nữ đã sinh tại các cơ sở y tế, 64% sinh tại bệnh viện huyện, so với 30% sinh tại trạm y tế xã. 49% phụ nữ cho biết lần sinh cuối cùng của họ có cán bộ y tế có trình độ chuyên môn hỗ trợ (so với tỷ lệ trung bình toàn quốc là 94%). Đa số các ca sinh có hỗ trợ của nhân viên y tế đã được đào tạo chuyên môn đều được thực hiện tại các cơ sở y tế. Chỉ có 7% các ca đẻ tại nhà có nhân viên y tế đã được đào tạo chuyên môn tới hỗ trợ.
 
Về chăm sóc hỗ trợ sau sinh, có 40% phụ nữ cho biết con họ đã được chăm sóc trong vòng 48 giờ đầu sau sinh. Tỷ lệ này cao hơn đối với các trẻ sơ sinh được sinh ra tại các cơ sở y tế (76%) so với những trẻ sơ sinh được sinh tại nhà (15%). Tuy nhiên, 8% các bà mẹ sinh con tại các cơ sở y tế không biết con họ có được chăm sóc ngay sau khi sinh hay không. Điều này cho thấy sự thiếu nhận thức về chăm sóc trẻ sơ sinh tại các cơ sở y tế trong những giờ đầu sau khi sinh (ví dụ, trẻ sơ sinh có thể được chuyển sang một phòng khác để được chăm sóc).
 
Trong số những người có con được chăm sóc sau khi sinh, 85% cho biết trẻ nhận được sự chăm sóc từ nữ hộ sinh, bác sĩ hoặc điều dưỡng; những người khác nói trẻ nhận được sự chăm sóc từ nhân viên y tế thôn bản hoặc cô đỡ thôn bản. Bệnh viện huyện là nơi kiểm tra sức khỏe phổ biến nhất cho trẻ sơ sinh, chiếm 53% các lần thăm khám sau sinh. Ngược lại, tỷ lệ khám sau sinh đối với các trạm y tế xã là 22% và 21% các lần thăm khám mẹ và trẻ sau khi sinh tại các hộ gia đình. Nhìn chung, 25% các bé được chăm sóc trong vòng 24 giờ đầu tiên sau khi sinh và tiếp tục được theo dõi trong các lần thăm khám kế tiếp, và 14% trẻ chỉ được thăm khám một lần sau khi sinh.
 
Về tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai 71% phụ nữ cho biết rằng họ đang sử dụng một biện pháp tránh thai (so với tỷ lệ trung bình toàn quốc là 76%). Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại là 57% (tương đương với tỷ lệ trung bình toàn quốc).
 
Từ thực tế nghiên cứu, một số khuyến nghị đã được đưa ra để làm tốt hơn công tác chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ, trẻ em các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Kiến nghị chính và quan trọng nhất là cần cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ chất lượng cao hơn tại các trạm y tế xã hiện có. Các cải thiện đối với chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ nên tập trung vào sáu lĩnh vực chiến lược sau gồm hướng dẫn khám bệnh, tiêu chuẩn dịch vụ, các can thiệp hiệu quả, đo chất lượng dịch vụ, các nghiên cứu liên quan và tăng cường năng lực. Kết hợp các cải thiện chất lượng tại cơ sở y tế với các chiến lược tiếp cận và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng để cải thiện việc sử dụng dịch vụ của các gia đình DTTS. Chính phủ cần đảm bảo phụ nữ DTTS nghèo và khó khăn được tiếp cận với BHYT và hiểu cách sử dụng BHYT. Thiết lập các can thiệp hiệu quả có bằng chứng nhằm đạt các tiến bộ trong chương trình đào tạo và công tác chăm sóc thai sản cho các cô đỡ thôn bản người DTTS. Điều chỉnh các chính sách và hướng dẫn quốc gia để đảm bảo nhóm dân cư dễ bị tổn thương có thể tiếp cận và sử dụng được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em ở tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu. Tăng cường sự giám sát và đánh giá để theo dõi trách nhiệm và nghĩa vụ giải trình của các cán bộ địa phương trong việc thực hiện hiệu quả của mạng lưới chăm sóc y tế địa phương tại các vùng có điều kiện khó khăn. Giám sát sự bất bình đẳng trên cả các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và bất bình đẳng đa chiều là cần thiết để có thể thiết kế các chương trình đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe đa dạng của các nhóm DTTS khác nhau.
 
Hoài Hương

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây