Điểm báo ngày 12/10/2019

 
Ngành Y tế Thủ đô: Hơn 6 thập kỷ chuyển mình
 
Những năm qua, ngành Y tế Thủ đô đã có những bước đột phá, đem lại sự hài lòng cho người bệnh. Nếu như các bệnh viện tuyến dưới “thay da đổi thịt”, thu hút ngày càng đông bệnh nhân, thì tuyến trên lại đi sâu vào việc triển khai nhiều kỹ thuật cao, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm quá tải, giúp người dân dễ dàng tiếp cận, sử dụng các dịch vụ y tế có hiệu quả cao nhất ở mọi lúc, mọi nơi.
 
Nhiều điểm sáng được ghi nhận
 
65 năm sau giải phóng ngành Y tế Thủ đô ngày càng phát triển, đặc biệt là trong những năm gần đây. Điều đáng mừng là ngành Y tế Thủ đô có xây được một số bệnh viện lớn như Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Bệnh viện K Tân Triều, Trung tâm Kỹ thuật cao và Tiêu hóa Hà Nội đạt tiêu chuẩn Châu Âu tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn…. Phần lớn các bệnh viện đã đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân. Cùng với việc ứng dụng và phát triển các kỹ thuật mới trong điều trị, việc đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế, áp dụng các biện pháp cải cách thủ tục hành chính nhằm giảm phiền hà cho người bệnh được ngành Y tế Thủ đô triển khai quyết liệt và hiệu quả.
 
Đơn cử như việc nhiều bệnh viện trên địa bàn Hà Nội triển khai hồ sơ bệnh án điện tử, giúp nhiều người bệnh được hưởng lợi. Tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, sau hơn 1 năm triển khai bệnh án điện tử bước đầu đã đem lại những hiệu quả tích cực. Từ khi áp dụng hồ sơ bệnh án điện tử, bệnh nhân không còn phải mang nhiều loại giấy tờ khi đi khám chữa bệnh; việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế minh bạch, không còn tình trạng trục lợi thẻ bảo hiểm y tế; khi ứng dụng thẻ từ thông minh để tiếp đón bệnh nhân rút ngắn thời gian tiếp đón từ khoảng 3 phút/1 bệnh nhân xuống còn từ 5-10 giây/1 bệnh nhân…
 
Theo Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Đức Giang Lê Anh Tuấn, hiện đối với số lượng bệnh nhân mãn tính, Bệnh viện đã có tất cả sổ y bạ điện tử. Khi bệnh nhân đến viện tái khám, chỉ cần quẹt thẻ hoặc ấn vân tay thì toàn bộ thông tin tiếp đón sẽ được thực hiện chỉ trong vòng 2 phút. Nhiều người bệnh không cần mang bất kỳ một loại giấy tờ gì vẫn có thể được tiếp đón đúng đối tượng.
 
Hiệu quả của mô hình hồ sơ bệnh án điện tử được đa phần bệnh nhân đánh giá tiện lợi, nhất là đối với những bệnh nhân cao tuổi phải thường xuyên tới khám và điều trị tại Bệnh viện. Chia sẻ về vấn đề này, bệnh nhân Trần Văn Vẻ (Gia Lâm – Hà Nội) cho biết: Tôi đến đây khám bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường. Tôi đăng ký khám qua tổng đài, vì vậy cứ đến ngày, đến giờ là tôi đi khám. Từ khi Bệnh viện triển khai hồ sơ bệnh án điện tử, người bệnh như tôi không còn phải “tay xách nách mang” giấy tờ, nên rất nhanh và tiện lợi. Thời gian tiết kiệm được bác sĩ dùng để thăm khám, tư vấn và giải thích cho bệnh nhân kỹ càng hơn”.
 
Không chỉ có lợi với bệnh nhân, mà việc áp dụng hồ sơ bệnh án điện tử còn giúp các bác sĩ, nhân viên y tế giải tỏa được nhiều sức lao động không cần thiết trong việc khám chữa bệnh. Việc triển khai hồ sơ điện tử còn giúp truyền tải dữ liệu người bệnh giữa các khoa, phòng một cách nhanh chóng, nâng cao khả năng tương tác và truyền thông giữa các bên.
 
Đối với công tác chuyên môn, Sở Y tế Hà Nội luôn nỗ lực đẩy mạnh các biện pháp chủ động bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Hầu hết các loại dịch bệnh có số ca mắc giảm dần theo các năm và đặc biệt là hạn chế được ca bệnh tử vong; tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc xin phòng bệnh trên địa bàn thành phố thường cao hơn so với chỉ tiêu của Quốc gia. Chất lượng công tác khám chữa bệnh được nâng cao, tập trung đổi mới phong cách, thái độ phục vụ bệnh nhân, phát triển nhiều kỹ thuật chuyên sâu trong chẩn đoán, điều trị, nhiều kỹ thuật ngang tầm với các bệnh viện Trung ương.
 
Tương tự, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã khẳng định vị thế quan trọng của mình trong công tác điều trị, khám chữa bệnh sản, phụ khoa. Trong nhiều năm qua, Bệnh viện đã tiến hành nhiều kỹ thuật mới nhằm đảm bảo cho việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Đặc biệt, năm 2018, Bệnh viện đã tiến hành các kỹ thuật mới như: Phẫu thuật đặt mảnh ghép sinh học trong bệnh lý sàn chậu (điều trị són tiểu và sa sinh dục, phẫu thuật nam học); kỹ thuật xét nghiệm PLGF trong sàng lọc tiền sản giật sớm quý I thai kỳ; kỹ thuật đo chỉ số sung của động mạch tử cung sàng lọc tiền sản giật sớm thai kỳ; áp dụng kỹ thuật Lisa (kỹ thuật bơm surfactant ít xâm nhập) trong điều trị hội trứng suy hô hấp cho trẻ sơ sinh; phẫu thuật ung thư vú, ung thư phụ khoa; triển khai điều trị nội cho bệnh nhân ung thư sau phẫu thuật...
 
Ngoài ra, Bệnh viện còn phát triển áp dụng một số kỹ thuật mới theo phát sinh của mô hình bệnh tật mới như: Xử trí thai tại sẹo mổ cũ, phẫu thuật sửa sẹo hở khuyết vết mổ…
 
Thầy thuốc Nhân dân, Phó Giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Duy Ánh – Giám đốc Bệnh viện khẳng định: Ba mũi nhọn chuyên môn của Bệnh viện trong năm 2018 là sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh, hỗ trợ sinh sản và sơ sinh. Trong đó, Trung tâm Sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2018 đã triển khai hoạt động trả kết quả sàng lọc trước sinh sau 2 giờ lấy máu và trả kết quả kết quả sàng lọc sơ sinh qua website của Bệnh viện. Tại Trung tâm Sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh đã triển khai đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước và quốc tế.
 
Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh y tế tuyến cơ sở
 
Không chỉ tuyến thành phố, ngay cả với bệnh viện tuyến huyện cũng đã có nhiều sự đổi thay đáng kể. Ông Nguyễn Danh Sơ (xã Minh Châu, huyện Ba Vì) là một trong những bệnh nhân thường xuyên của Trạm Y tế xã Minh Châu chia sẻ: “Tôi bị huyết áp cao nên tháng nào cũng lên Trạm y tế lấy thuốc, kiểm tra định kỳ. Còn vợ tôi bị tê tay chân do vôi hóa cột sống, nên ngày nào cũng ra Trạm y tế xã châm cứu, sức khỏe thấy tốt lên từng ngày. Tới đây khi Trạm y tế xã bổ sung thêm nhiều máy móc thì chẳng khác nào một “bệnh viện mini”, người dân chẳng phải chuyển tuyến đi xa, bớt khó khăn, tốn kém” - ông Sơ vui vẻ nói.
 
Nếu như 20 năm trước, những bệnh nhân như vợ chồng ông Sơ sẽ phải chuyển lên tuyến trên điều trị, thì nay câu chuyện đã khác. Để khắc phục tình trạng này, thời gian qua, ngành Y tế Thủ đô không chỉ đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị mà còn thực hiện hiệu quả việc cử người hành nghề đi luân phiên hỗ trợ tuyến dưới, chuyển giao kỹ thuật. Hiện nay, 100% bệnh viện tuyến huyện đã thực hiện phẫu thuật nội soi viêm ruột thừa, u nang buồng trứng... Ngoài ra, còn phát triển kỹ thuật cao trong các lĩnh vực: Sản phụ khoa, tim mạch, ung bướu... Chính vì nhiều bệnh viện tuyến huyện đã thực hiện được các kỹ thuật cao, giúp người dân tin tưởng, lựa chọn chăm sóc sức khỏe ngay tại địa phương.
Đây được xem là một trong những kết quả nổi bật sau khi ngành Y tế Thủ đô triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, cải cách hành chính, cải tiến quy trình từ khâu đón tiếp, khám bệnh, xét nghiệm, thanh toán... nhằm rút ngắn thời gian chờ làm các thủ tục khám, chữa bệnh, nâng cao mức độ hài lòng của bệnh nhân.
 
Tiến sĩ Trần Văn Chung, Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội cho biết: Với nỗ lực của toàn ngành Y tế, tỷ lệ giường bệnh/vạn dân năm 2018 đạt 23,3 và dự kiến đến 2020 đạt được 23,7, không đạt được mục tiêu đặt ra (26,5), bởi mặc dù có tăng số giường bệnh nhưng dân số Hà Nội tăng thêm 1 triệu người so với năm 2018. Về chỉ tiêu bác sĩ/vạn dân, dự kiến năm nay đạt 13,4 và năm 2020 sẽ đạt 13,5, hoàn thành mục tiêu đặt ra, nhờ các giải pháp mà ngành đang và sẽ triển khai liên quan đến tổ chức tuyển dụng viên chức, tiếp tục tăng giường bệnh cho các cơ sở y tế làm cơ sở để tuyển dụng bác sĩ, có chính sách thu hút nhân lực về làm việc tại các cơ sở y tế trên địa bàn Thành phố.
 
Đặc biệt, đối với tỷ lệ xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế, đến cuối năm 2018 có 581/584 (99,48%) xã, phường đạt tiêu chí này; hiện 3 xã thuộc huyện Mỹ Đức đã triển khai đầu tư xây dựng trạm y tế và dự kiến đến hết tháng 9/2019 đưa vào sử dụng.
 
(Báo Lao động thủ đô)
 
Mẹ hiến gan cứu con bé bỏng có cân nặng thấp nhất Việt Nam
 
Đây là ca ghép đặt ra cho các bác sĩ rất nhiều thách thức do nguy cơ gặp rủi ro trong quá trình ghép rất cao. Thêm vào đó, với những trường hợp bệnh nhi có cân nặng thấp chỉ 6,4kg như bé Q.C thì kỹ thuật ghép và việc hồi sức sau phẫu thuật cũng sẽ phức tạp hơn nhiều so với các trường hợp khác.
 
Ngày 2/10, ca ghép gan thứ 16 cho bé Phạm Q.C (11 tháng 2 ngày tuổi) đã được thực hiện tại Bệnh viện Nhi Trung ương với sự hỗ trợ của các chuyên gia nước ngoài. Tại thời điểm này, đây là ca phẫu thuật ghép gan cho bệnh nhi với tuổi đời và cân nặng thấp nhất tại Việt Nam. Cuộc đời của bé gái mắc bệnh hiểm nghèo đã được hồi sinh nhờ sự hy sinh của người mẹ ruột đã quyết tâm hiến một phần gan trái để cứu sống con, sự quyết tâm của gia đình cùng sự tận tâm của các bác sĩ.
 
Theo gia đình cho biết, cháu Phạm Q.C  khi sinh ra hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, sau sinh 5 tuần, gia đình thấy cháu có biểu hiện vàng da. Cháu được chẩn đoán teo đường mật bẩm sinh. Từ đó đến nay cháu đã gần 1 tuổi nhưng thời gian ở viện nhiều hơn ở nhà - anh H., bố cháu Q.C chia sẻ.
 
Bé Q.C được nhập viện trong tình trạng vàng da ứ mật nặng và suy gan, để cứu cháu chỉ còn một con đường duy nhất là ghép gan điều trị, gia đình đã tham khảo ý kiến các chuyên gia và chuẩn bị cho việc ghép gan theo lịch vào tháng 2/2020.
 
Tuy nhiên do tình trạng suy gan tiến triển kèm theo các đợt xuất huyết tiêu hóa tái diễn với các diễn biến nặng nề đe dọa nguy cơ tử vong khiến chỉ định ghép gan phải tiến hành khẩn cấp hơn dự kiến để dành lại sự sống cho bé.
 
Chạy đua thời gian “ghép gan cấp cứu”
 
Chia sẻ về trường hợp của cháu Phạm Q.C, TS. Nguyễn Phạm Anh Hoa - Trưởng khoa Gan mật, Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, ngày 20/09, khi được chuyển ra Bệnh viện Nhi TW, tình trạng sức khỏe của bệnh nhi rất kém: trẻ suy gan, da và củng mạc vàng đậm, gan lách to, cổ trướng và phù. Tất cả tập trung tối đa cho ca ghép gan dự kiến sẽ tiến hành 2 tuần sau đó.
 
Trong 2 tuần chuẩn bị gấp rút, tình trạng sức khỏe của bé liên tục có diễn biến xấu, xuất huyết tiêu hóa nặng tái diễn. Nguy cơ xuất huyết trong phẫu thuật và trong thời gian hậu phẫu cũng đã được cân nhắc để chuẩn bị các phương án tối ưu.
 
“Đây là ca ghép đặt ra cho các bác sĩ rất nhiều thách thức do nguy cơ gặp rủi ro trong quá trình ghép rất cao. Thêm vào đó, với những trường hợp bệnh nhi có cân nặng thấp chỉ 6,4kg như bé Q.C thì kỹ thuật ghép và việc hồi sức sau phẫu thuật cũng sẽ phức tạp hơn nhiều so với các trường hợp khác”- bác sĩ Hoa chia sẻ.
 
Theo TS. Phạm Duy Hiền - Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, để thực hiện thành công ca ghép gan cho cháu C, các bác sĩ đã phải chạy đua với thời gian để chuẩn bị các điều kiện cần thiết. Ca phẫu thuật được diễn ra như một ca “ghép gan cấp cứu”. Với sự nỗ lực  không mệt mỏi của đội ngũ y bác sĩ Việt Nam và các chuyên gia tới từ bệnh viện Veterants General Hospital – Đài Bắc, cháu bé đã được hồi sinh nhờ một phần gan của chính mẹ ruột mình.
 
“Tính tới thời điểm này, đây là bệnh nhân ít tuổi nhất và có cân nặng thấp nhất được ghép gan tại Việt Nam với thời gian thực hiện ghép kỷ lục chỉ trong 8h. Đặc biệt, các bác sĩ khoa Ngoại Tổng hợp, BV Nhi TW đã từng bước làm chủ kĩ thuật, tự mình thực hiện ca mổ phức tạp một cách an toàn, hiệu quả.
 
Thành công của các ca ghép tạng trẻ em liên tiếp gần đây mở ra cơ hội cho các bệnh nhi mắc các bệnh gan mật bẩm sinh trước đây không thể chữa khỏi, đồng thời mở ra một hướng phát triển mới cho chuyên ngành ghép tạng Việt Nam” - Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết thêm.
 
(Báo Sức khỏe và đời sống)
 
Mang thai tuổi mãn kinh: Tiềm ẩn nhiều rủi ro
 
Kinh nguyệt đã hết, buồng trứng đã teo nhưng phụ nữ cao tuổi vẫn có thể sinh con. Công nghệ mới này đã giúp không ít người hưởng niềm vui làm mẹ ở tuổi xế chiều. Tuy nhiên, việc mang thai ở tuổi mãn kinh có rất nhiều rủi ro.
 
Dùng trứng của người khác
 
60 tuổi vẫn có thể làm mẹ, điều kỳ diệu này đã trở thành hiện thực với những người phụ nữ cao tuổi tại Việt Nam. Tất cả là nhờ những tiến bộ của y học hiện đại.
 
Thông tin trên đã khiến không ít người tò mò muốn tìm hiểu. Theo đó, bà Nguyễn Thị Gấm (xã Xuân Lai, Gia Bình, Bắc Ninh) đã gần 60 tuổi. Vì người con lớn ở xa nên vợ chồng bà muốn sinh thêm một đứa con nữa cho đỡ hiu quạnh.
 
Hy vọng mong manh nhưng vợ chồng bà vẫn đến Bệnh viện Bưu điện để được thăm khám và tư vấn.Trong những trường hợp này, các bác sĩ dùng phương pháp tiêm tinh trùng vào bào tương trứng rồi tiến hành chuyển phôi.
 
Mặc dù, trong quá trình mang thai, các bà mẹ lớn tuổi sẽ gặp rủi ro cao hơn nhưng nhờ được theo dõi và chăm sóc khoa học nên đã có nhiều trường hợp sinh thành công khi sản phụ có độ tuổi từ 53 - 60.
 
Với bà Gấm, ước mơ đã thành hiện thực khi gia đình có thêm thành viên mới. Nhờ tiến bộ của y học, các bà mẹ lớn tuổi có thể sinh ra các em bé khỏe mạnh và phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Đây không chỉ là niềm vui của các cặp vợ chồng mà còn là niềm vui của ngành y tế Việt Nam.
 
Năm 2015, vợ chồng bà Nguyễn Thị Nguyệt (62 tuổi ở Lạng Giang, Bắc Giang) cũng đã có cậu con trai con nhờ thụ tinh trong ống nghiệm. Trước đó, các bác sĩ cũng đã hỗ trợ sinh sản thành công cho một sản phụ 58 tuổi - sinh một bé trai khỏe mạnh, nặng 3,2 kg.

BS Cao Hồng Chi, Trung tâm Tư vấn Sức khỏe sinh sản, Sức khỏe cộng đồng, Hội Kế hoạch hóa gia đình cho biết, mang thai ở tuổi mãn kinh là một thành tựu của y học, song không phải ai cũng có thể mang thai vì nhiều lý do.
 
Ở tuổi 60, buồng trứng đã suy, không còn khả năng kích trứng, nên buộc phải đi xin trứng. Sau đó tiến hành thụ tinh với tinh trùng của người chồng và cấy vào người phụ nữ. Không có chuyện một người không còn trứng nữa mà vẫn sinh đẻ bình thường được.
 
Về bản chất, gen của đứa con không phải là gen di truyền từ người mẹ mang thai, mà từ người cho trứng. Việc người phụ nữ đã 60 tuổi mang thai ẩn chứa rất nhiều rủi ro. Trong 3 tháng đầu, phải tiêm nhiều thuốc nội tiết để giữ thai.
 
“Lúc này, niêm mạc tử cung đã teo rồi, trứng không làm tổ được. Cấy phôi vào, rất khó để giữ. Nguy cơ thai không đậu là rất cao nên phải sử dụng rất nhiều thuốc nội tiết. Thuốc nội tiết làm cho khối u phát triển nhanh, nên những người có khối u như mắc bệnh u xơ tử cung chẳng hạn, là không áp dụng biện pháp này được”, BS Cao Hồng Chi cho biết.
 
Nhiều rủi ro
Theo BS Cao Hồng Chi, các sản phụ cao tuổi muốn mang thai thành công thì quan trọng nhất là chất lượng niêm mạc của tử cung. Việc mang thai ở tuổi mãn kinh có rất nhiều rủi ro.
 
Đầu tiên là sử dụng quá nhiều thuốc nội tiết có thể làm kích thích khối u phát triển, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe. Những biến chứng trong quá trình mang thai cũng rất dễ xảy ra. Rồi sức khỏe của người phụ nữ ở tuổi này cũng đã kém đi nhiều, khả năng vượt qua được chặng đường thai nghén cũng thấp.
 
Ở tuổi này các cơ quan cơ thể không còn hoạt động tốt như trước, sức khỏe nói chung cũng khó có thể bảo đảm thụ tinh nhân tạo thành công.
 
Ngay cả khi điều kỳ diệu xảy ra là thụ tinh nhân tạo thành công thì nguy cơ sảy thai, thai chết lưu vô cùng lớn bởi nội tiết của người cao tuổi quá kém.
 
Các bác sĩ không khuyến khích phụ nữ lớn tuổi mãn kinh sinh con dù thực tế về mặt khoa học có thể được. Phụ nữ mang thai và sinh con khó khăn hơn khi lớn tuổi và có thể gặp một số vấn đề sức khỏe gây nguy hiểm cho thai kỳ.
 
Một rủi ro nữa là chi phí để thực hiện mang thai ở tuổi mãn kinh sẽ rất lớn. BS Cao Hồng Chi cho biết, mang thai bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo thông thường, không gặp bất trắc gì, thì có giá khoảng 150 triệu đồng/lần.
 
Ngoài ra, còn phải đi xin trứng, với giá khoảng 30 - 40 triệu đồng/lần. Trong quá trình mang thai cũng phải sử dụng rất nhiều thủ thuật khác nhau, tổng chi phí lên đến 200 - 300 triệu đồng. Đó là trường hợp thuận lợi nhất.
 
Trong khi đó, rất nhiều người làm đi làm lại không thành công, thì chi phí còn cao hơn nữa.
 
Hiện, có một xu hướng mới đang được nhiều người quan tâm là lưu trữ trứng và tinh trùng khi tuổi còn trẻ để dự phòng cho sau này, đặc biệt là người có dự định lập gia đình muộn, người bị ung thư và cần lưu trữ trứng, tinh trùng trước khi điều trị để tránh chất lượng trứng và tinh trùng bị tổn thương...
 
Với kỹ thuật hiện nay, có những trường hợp trữ lạnh trứng và tinh trùng trong vòng 15 năm khi rã đông để làm hỗ trợ sinh sản thì chất lượng trứng, tinh trùng vẫn còn tốt.
 
Người mẹ càng lớn tuổi, nguy cơ gặp phải các biến chứng khi mang thai và sinh nở càng cao. Do vậy, những người có ý định sinh con khi tiền mãn kinh hoặc mãn kinh hãy tham khảo rất kỹ ý kiến của các chuyên gia hỗ trợ sinh sản, cũng như thực hiện đầy đủ các lời khuyên về khám sức khỏe, khám thai, sàng lọc trước sinh và sau sinh.
 
(Báo Giáo dục và thời đại)
 
Thêm một bệnh nhi 5 tuổi mắc bệnh Whitmore
 
Đây là ca mắc bệnh Whitmore thứ hai liên tiếp được phát hiện trong tháng 10 tại tỉnh Bình Định.
 
Ngày 12/10, Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa (Bình Định) cho hay, bệnh viện đang tiếp nhận điều trị bệnh nhi P.B.B.N (SN 2014, ở xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) bị nhiễm Whitmore.
 
Bệnh nhi nhập viện ngày 3/10. Qua thăm khám, các bác sĩ nhận thấy triệu chứng ban đầu bệnh nhân là sưng dưới góc hàm trái, kích thước khoảng 3x2 cm, nóng, đỏ, đau. Các bác sĩ chẩn đoán bé bị áp-xe tuyến mang tai trái nghi do nhiễm vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây nên bệnh Whitmore. Kết quả cận lâm sàng cũng xác định là vi khuẩn Burkholderia pseudomallei, kháng sinh đồ nhạy với ceftazidim. Người nhà cho biết, bé bị sốt đã lâu, gần đây nổi hạch góc hàm nên xin vào viện điều trị.
 
Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa cho biết, bệnh nhi đang được bệnh viện điều trị tích cực với các kháng sinh: Ceftazidim tiêm tĩnh mạch, Augmentin uống, Paracetamol uống và điều trị hỗ trợ nâng cao thể trạng. Hiện sức khỏe bệnh nhi ổn định, bé tỉnh táo, chơi, ăn uống bình thường, không ho, không sốt. Bệnh viện đã báo cáo ca bệnh cho Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế).
 
Được biết, đây là ca mắc Whitmore thứ hai được phát hiện tại Bình Định. Trước đó, ngày 7/10, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định - Phần Mở rộng đã tiếp nhận điều trị cho một nữ bệnh nhân nhiễm vi khuẩn Burkholderia Pseudomallei (còn gọi là vi khuẩn Whitmore). Nữ bệnh nhân N.T.N (29 tuổi, ở tỉnh Phú Yên) có tiền sử đái tháo đường tuýp 1, được phát hiện và điều trị cách đây 1 năm.
 
Bệnh khởi phát cách ngày nhập viện 15 ngày, với các triệu chứng sưng đau, nóng, đỏ vùng cổ trái, kèm theo sốt, ớn lạnh, mệt mỏi về chiều. Chị N. có đi khám và điều trị ngoại trú với chẩn đoán viêm hạch cổ nhưng không đỡ và tiến hành nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định - Phần Mở rộng vào ngày 30/9 với triệu chứng sốt cao, sưng đau vùng cổ trái. Sau 7 ngày điều trị, bệnh nhân hết sốt, vết thương sạch, đường huyết ổn định.
 
Ngành Y tế khyến cáo: Để chủ động phòng bệnh Melioidosis (Whitmore), người dân cần thực hiện 5 biện pháp sau: Hạn chế tiếp xúc với đất hoặc nước bùn, đặc biệt là những nơi bị ô nhiễm nặng; sử dụng giày, dép và găng tay đối với những người thường xuyên làm việc ngoài trời, tiếp xúc với đất và nước bẩn, đặc biệt đối với những người có nguy cơ cao; khi có vết thương hở, vết loét hoặc vết bỏng cần tránh tiếp xúc với đất hoặc nước có khả năng bị ô nhiễm. Nếu bắt buộc phải tiếp xúc thì sử dụng băng chống thấm và cần được rửa sạch đảm bảo vệ sinh; những người có bệnh mãn tính như tiểu đường, suy giảm miễm dịch cần được chăm sóc, bảo vệ các tổn thương để ngăn ngừa nhiễm khuẩn; khi nghi ngờ nhiễm bệnh cần đến cơ sở y tế để được tư vấn, khám phát hiện, xét nghiệm xác định nhiễm vi khuẩn B. pseudomallei và điều trị kịp thời.
 
(Báo Giao thông)
Khoa Truyền thông, giáo dục sức khỏe

 

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website này như thế nào?

Liên kết
Thống kê
  • Đang truy cập36
  • Hôm nay5,172
  • Tháng hiện tại146,434
  • Tổng lượt truy cập8,191,267
coppyright
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây