Vừa qua, khoa Chấn thương chỉnh hình - Bệnh viện đa khoa Ba Vì đã tiếp nhận và điều trị thành công cho người bệnh Nguyễn Thị B (69 tuổi, trú tại xã Quảng Oai, Hà Nội) trong tình trạng nặng với nhiều bệnh lý phức tạp kèm theo. Từ trường hợp này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với BSCKII Chu Thanh Bình - Trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình để chia sẻ những cảnh báo y khoa đáng chú ý về loét tỳ đè ở người bệnh nằm lâu ngày.
Người bệnh nhập viện với ba ổ loét tỳ đè lớn vùng cùng cụt và hai bên mông.
Phóng viên: Thưa bác sĩ, trường hợp người bệnh Nguyễn Thị B. vừa được điều trị thành công tại bệnh viện có gì đặc biệt khiến ê-kíp đánh giá là ca bệnh rất nặng?
BSCKII Chu Thanh Bình: Đây là một trong những trường hợp loét tỳ đè nặng và phức tạp mà chúng tôi tiếp nhận trong thời gian gần đây. Người bệnh 69 tuổi, có nhiều bệnh nền mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường type II, liệt hai chi dưới sau tai biến mạch máu não và đã từng phẫu thuật sọ não.
Khi nhập viện, người bệnh xuất hiện ba ổ loét tỳ đè lớn vùng cùng cụt và hai bên mông. Đặc biệt, ổ loét vùng cùng cụt đã ở độ IV, mức độ nặng nhất trong phân loại loét tỳ đè. Kích thước ổ loét khoảng 15cm, tổ chức hoại tử sâu, có mùi hôi rất nặng, nguy cơ nhiễm khuẩn rất cao.
Điều đáng lo ngại là loét tỳ đè không chỉ dừng lại ở tổn thương ngoài da. Khi vết loét kéo dài, vi khuẩn có thể xâm nhập sâu xuống cơ, xương, gây viêm xương, nhiễm trùng huyết hoặc suy đa cơ quan. Trong khi đó, người bệnh lại đang viêm phổi, suy kiệt nặng, đại tiểu tiện không tự chủ và hoàn toàn phụ thuộc người chăm sóc. Có thể nói đây là một ca bệnh đòi hỏi điều trị đa chuyên khoa chứ không đơn thuần là xử lý vết thương.
Phóng viên: Với một trường hợp loét tỳ đè độ IV như vậy, khó khăn lớn nhất trong điều trị là gì, thưa bác sĩ?
BSCKII Chu Thanh Bình: Khó khăn lớn nhất nằm ở việc phải xử lý đồng thời nhiều vấn đề. Vừa cần phẫu thuật chuyên sâu, vừa phải kiểm soát nhiều bệnh lý nội khoa mạn tính đi kèm. Nếu chỉ tập trung phẫu thuật mà không kiểm soát bệnh nền, người bệnh rất dễ nhiễm trùng tái phát, hoại tử tiếp tục lan rộng hoặc không liền vết mổ.
Loét tỳ đè độ IV là giai đoạn tổn thương đã xuyên sâu qua da, mô mỡ và có thể đến cơ hoặc xương. Ở giai đoạn này, phẫu thuật cắt lọc hoại tử là bắt buộc. Tuy nhiên, để có thể tiến hành phẫu thuật tạo hình che phủ khuyết hổng, tình trạng toàn thân của người bệnh phải được cải thiện trước.
Trong hơn một tháng điều trị tích cực, chúng tôi phải phối hợp nhiều chuyên khoa để hồi sức, ổn định toàn trạng, điều trị viêm phổi, kiểm soát đường huyết và huyết áp. Đây là bước nền tảng rất quan trọng. Nếu đường huyết không ổn định, nguy cơ nhiễm trùng và chậm lành thương sẽ tăng cao. Nếu dinh dưỡng không đảm bảo, mô mới không thể tái tạo hiệu quả.
Sau khi toàn trạng ổn định hơn, ê-kíp tiến hành phẫu thuật cắt lọc toàn bộ tổ chức hoại tử vùng loét độ IV. Sau đó, người bệnh tiếp tục được chăm sóc vết thương chuyên sâu hằng ngày trước khi thực hiện phẫu thuật chuyển vạt da che phủ khuyết hổng phần mềm vùng cùng cụt.
Việc chuyển vạt da không đơn giản là vá da. Mục tiêu là tái tạo lớp mô đủ dày, đủ nuôi dưỡng để chịu được áp lực tỳ đè lâu dài và hạn chế tái loét. Nếu đánh giá không chính xác hoặc chăm sóc hậu phẫu không tốt, nguy cơ bục vết mổ và tái phát rất cao.
Phóng viên: Theo bác sĩ, vì sao loét tỳ đè ở người bệnh liệt lâu ngày vẫn thường bị gia đình chủ quan?
BSCKII Chu Thanh Bình: Nhiều người nghĩ rằng loét tỳ đè chỉ là một vết đỏ ngoài da do nằm lâu nên thường xử lý theo kinh nghiệm tại nhà. Tuy nhiên, đây là quan niệm rất nguy hiểm.
Loét tỳ đè hình thành khi một vùng cơ thể bị đè ép liên tục trong thời gian dài, làm cản trở tuần hoàn máu nuôi mô. Ban đầu chỉ là đỏ da, nhưng nếu không thay đổi tư thế và chăm sóc đúng cách, mô sẽ thiếu oxy, hoại tử dần và tạo thành vết loét sâu.
Ở người bệnh liệt, cảm giác đau giảm hoặc mất hoàn toàn nên nhiều trường hợp không phát hiện sớm. Đến khi vết loét có mùi hôi, chảy dịch hoặc sốt thì tổn thương đã rất nặng.
Một nguyên nhân khác là gánh nặng chăm sóc kéo dài khiến người nhà dễ mệt mỏi, bỏ sót các bước chăm sóc cơ bản. Việc xoay trở người bệnh mỗi vài giờ, giữ da khô sạch, kiểm soát dinh dưỡng hay theo dõi vùng tỳ đè đòi hỏi sự kiên trì và kiến thức chăm sóc đúng.
Trên thực tế, nhiều trường hợp nhập viện khi ổ loét đã ở giai đoạn III hoặc IV. Lúc này, điều trị không chỉ tốn kém mà còn kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống và nguy cơ tử vong tăng lên đáng kể.
Phóng viên: Trong quá trình điều trị ca bệnh này, yếu tố nào đóng vai trò quyết định thành công, thưa bác sĩ?
BSCKII Chu Thanh Bình: Yếu tố quan trọng nhất là sự phối hợp đa chuyên khoa. Những trường hợp loét tỳ đè nặng không thể điều trị hiệu quả nếu chỉ dựa vào một chuyên khoa đơn lẻ. Ca bệnh này có sự tham gia của khoa Chấn thương chỉnh hình, Hồi sức tích cực chống độc, Phục hồi chức năng, Dinh dưỡng cùng đội ngũ gây mê hồi sức. Mỗi chuyên khoa đảm nhiệm một vai trò khác nhau nhưng đều liên quan chặt chẽ đến kết quả cuối cùng.
Ví dụ, nếu dinh dưỡng không cải thiện thì phẫu thuật khó thành công. Nếu phục hồi chức năng không tham gia hướng dẫn thay đổi tư thế và giảm áp lực tỳ đè thì nguy cơ tái loét rất cao. Nếu hồi sức không kiểm soát tốt viêm phổi và bệnh nền thì người bệnh khó đủ điều kiện để phẫu thuật.
Ngoài ra, chăm sóc hậu phẫu đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Sau chuyển vạt da, người bệnh phải được theo dõi sát để tránh đè ép lên vùng phẫu thuật. Điều dưỡng phải chăm sóc vết thương mỗi ngày, đánh giá tình trạng tuần hoàn mô, kiểm soát nhiễm khuẩn và hướng dẫn người nhà phối hợp chăm sóc.
May mắn là sau quá trình điều trị tích cực, hiện sức khỏe người bệnh đã ổn định, vết mổ tiến triển tốt và phần khuyết hổng được che phủ hiệu quả.
Phóng viên: Bác sĩ có khuyến cáo gì để phòng ngừa loét tỳ đè ở người bệnh nằm lâu ngày?
BSCKII Chu Thanh Bình: Điều quan trọng nhất là phải xem phòng ngừa loét tỳ đè là một phần bắt buộc trong chăm sóc người bệnh liệt hoặc nằm lâu ngày. Gia đình cần lưu ý một số nguyên tắc cơ bản: Thay đổi tư thế cho người bệnh thường xuyên, trung bình khoảng 2 giờ/lần để giảm áp lực kéo dài lên một vùng da. Giữ da luôn sạch và khô, đặc biệt ở người bệnh đại tiểu tiện không tự chủ. Sử dụng đệm chống loét hoặc các dụng cụ hỗ trợ giảm tỳ đè nếu có điều kiện. Đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ, tăng cường đạm, vitamin và nước để hỗ trợ tái tạo mô. Theo dõi sớm các dấu hiệu bất thường như đỏ da kéo dài, phồng rộp, trợt da hoặc chảy dịch. Chú ý đưa người bệnh đến cơ sở y tế ngay khi phát hiện dấu hiệu loét để được xử trí kịp thời.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng loét tỳ đè không chỉ là vết thương do nằm lâu, mà là một bệnh lý có thể đe dọa tính mạng nếu không được điều trị đúng cách. Phát hiện sớm và chăm sóc đúng sẽ giúp giảm đáng kể nguy cơ biến chứng nặng. Trường hợp người bệnh trên cũng là lời cảnh báo rõ ràng rằng loét tỳ đè ở người bệnh liệt lâu ngày không phải biến chứng đơn giản, mà là thách thức y khoa cần được phát hiện sớm, điều trị bài bản và chăm sóc lâu dài một cách khoa học.
Xin trân trọng cảm ơn bác sĩ!
Kim Cương