Căn bệnh âm thầm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần nếu không được can thiệp kịp thời. (ảnh minh họa)
Phóng viên đã có buổi trao đổi với BSCKI Nguyễn Minh Hiếu - Bệnh viện Tâm thần Mỹ Đức để tìm hiểu những thông tin giúp nhận diện, điều trị và phòng ngừa căn bệnh này.
Phóng viên: Bác sĩ có thể giải thích rối loạn lo âu lan tỏa là gì và đối tượng nào dễ mắc phải nhất hiện nay?
BSCKI Nguyễn Minh Hiếu: Rối loạn lo âu lan tỏa được đặc trưng bởi các lo lắng quá mức về một sự kiện hoặc các hoạt động, diễn ra hầu như hàng ngày trong suốt một thời gian ít nhất 6 tháng. Các triệu chứng lo lắng quá mức luôn phối hợp với các triệu chứng cơ thể như căng cơ, dễ bị kích thích, khó vào giấc ngủ và bồn chồn. Người bệnh không thể kiểm soát được các lo lắng, giảm khả năng lao động, sinh hoạt và các chức năng quan trọng khác.
Lo âu là phản ứng tâm lý, sinh lý bình thường của con người trước những áp lực trong học tập, lao động, công việc, các mối quan hệ xã hội hoặc những tình huống đe dọa trong cuộc sống. Phản ứng lo âu giúp cơ thể thích nghi và chủ động đối phó với khó khăn. Khi các yếu tố gây lo lắng được giải quyết hoặc không còn tồn tại, trạng thái lo âu sẽ giảm dần và tự hết, không gây ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe và sinh hoạt của người đó.
Còn lo âu bệnh lý là tình trạng lo âu xuất hiện quá mức, kéo dài, khó kiểm soát, không tương xứng với hoàn cảnh thực tế hoặc tồn tại ngay cả khi không còn yếu tố gây lo lắng, làm suy giảm rõ rệt khả năng học tập, lao động, sinh hoạt và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Đây là biểu hiện của rối loạn tâm thần, cần được thăm khám, chẩn đoán và điều trị theo chuyên khoa.
Rối loạn lo âu lan tỏa có thể gặp ở nhiều đối tượng, tuy nhiên những nhóm sau có nguy cơ mắc cao hơn: Người thường xuyên chịu áp lực kéo dài, áp lực công việc, học tập, tài chính, chăm sóc gia đình, đặc biệt là stress mạn tính không được giải tỏa; Người có tính cách nhạy cảm, cầu toàn, hay lo nghĩ, dễ căng thẳng trước các vấn đề trong cuộc sống; Phụ nữ, nhất là phụ nữ trung niên, phụ nữ sau sinh hoặc trong giai đoạn thay đổi nội tiết; Người có tiền sử rối loạn tâm thần (trầm cảm, rối loạn lo âu khác) hoặc gia đình có người mắc bệnh tâm thần; Người mắc bệnh mạn tính như tim mạch, nội tiết, tiêu hóa… phải điều trị kéo dài; Người có lối sống không lành mạnh, thiếu ngủ, lạm dụng rượu bia, chất kích thích, ít vận động, ít kết nối xã hội. Điều quan trọng là rối loạn lo âu lan tỏa có thể xảy ra ở bất kỳ ai, không phân biệt tuổi tác hay nghề nghiệp. Khi cảm giác lo lắng kéo dài trên 6 tháng, ảnh hưởng đến sinh hoạt và công việc, người bệnh nên đi khám chuyên khoa tâm thần để được tư vấn và điều trị kịp thời.
Phóng viên: Những biểu hiện lâm sàng điển hình của rối loạn lo âu lan tỏa là gì, thưa bác sĩ?
BSCKI Nguyễn Minh Hiếu: Biểu hiện của rối loạn lo âu lan tỏa thường đa dạng, bao gồm các nhóm triệu chứng sau: Về triệu chứng lo âu tâm lý: Lo lắng kéo dài, lan tỏa, không tập trung vào một mối lo cụ thể; cảm giác căng thẳng, hồi hộp, bất an thường xuyên; Khó kiểm soát dòng suy nghĩ lo âu; khó tập trung, giảm khả năng ra quyết định; dễ cáu gắt, bứt rứt, khó thư giãn.
Về triệu chứng cơ thể (thần kinh thực vật): Hồi hộp, đánh trống ngực; run tay chân, vã mồ hôi; cảm giác tức ngực, khó thở, nghẹn cổ; đau đầu, căng cơ, đau mỏi vai gáy; rối loạn tiêu hóa (đầy bụng, buồn nôn, khó chịu vùng thượng vị); rối loạn giấc ngủ kéo dài. Các triệu chứng cơ thể này thường khiến người bệnh đi khám nhiều chuyên khoa khác nhau (tim mạch, tiêu hóa, xương khớp…) nhưng không phát hiện bệnh lý thực thể rõ ràng.
Phóng viên: Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, rối loạn lo âu lan tỏa có thể gây ra những hậu quả gì đối với sức khỏe, công việc và chất lượng cuộc sống của người bệnh, thưa bác sĩ?
BSCKI Nguyễn Minh Hiếu: Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, rối loạn lo âu lan tỏa có thể: Kéo dài, tiến triển mạn tính; gây suy nhược thể chất và tinh thần; làm trầm trọng các rối loạn cơ thể liên quan stress; dễ phối hợp với trầm cảm; gia tăng nguy cơ ý nghĩ tự sát trong những trường hợp nặng. Do đó, rối loạn lo âu lan tỏa không phải là bệnh lý nhẹ, cần được can thiệp y tế sớm.
Phóng viên: Nguyên tắc điều trị rối loạn lo âu lan tỏa là gì, thưa bác sĩ?
BSCKI Nguyễn Minh Hiếu: Sau 6 tháng bị bệnh, tỷ lệ người bệnh có trầm cảm phối hợp là rất cao. Tỷ lệ lui bệnh hoàn toàn ở các bệnh nhân có trầm cảm phối hợp là rất thấp. Rối loạn lo âu lan tỏa là bệnh có thể điều trị hiệu quả nếu được chẩn đoán sớm và điều trị đúng. Nguyên tắc điều trị bao gồm: Sử dụng các nhóm thuốc bình thần, chống trầm cảm, an thần kinh theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa tâm thần; kết hợp các biện pháp trị liệu tâm lý nhằm giúp người bệnh điều chỉnh các suy nghĩ và phản ứng lo âu không phù hợp; điều chỉnh lối sống, giảm stress, duy trì chế độ sinh hoạt hợp lý; điều trị các bệnh lý cơ thể kèm theo (nếu có). Người bệnh cần tuân thủ điều trị, không tự ý dùng thuốc hoặc ngừng điều trị khi thấy triệu chứng thuyên giảm.
Phóng viên: Theo bác sĩ, gia đình và cộng đồng đóng vai trò như thế nào trong việc hỗ trợ, đồng hành và phòng ngừa tái phát rối loạn lo âu lan tỏa?
BSCKI Nguyễn Minh Hiếu: Gia đình và cộng đồng có vai trò quan trọng trong phòng chống rối loạn lo âu lan tỏa. Cần phát hiện sớm các biểu hiện lo âu kéo dài, quan tâm, lắng nghe, chia sẻ với người bệnh; không kỳ thị đối với người mắc các rối loạn tâm thần; động viên người bệnh tiếp cận và duy trì điều trị tại các cơ sở y tế chuyên khoa tâm thần.
Phóng viên: Bác sĩ có khuyến cáo gì để người dân chủ động phòng ngừa rối loạn lo âu lan tỏa trong cuộc sống hiện nay?
BSCKI Nguyễn Minh Hiếu: Người dân cần duy trì hoạt động thể chất, phát triển thói quen tập thể dục đều đặn hàng ngày tốt cho cả sức khỏe thể chất lẫn sức khỏe tâm thần, có chế độ ăn uống lành mạnh, đủ chất dinh dưỡng; tham gia các hoạt động xã hội lành mạnh; đồng thời, tránh rượu bia và các chất kích thích cà phê, thuốc lá, chất gây nghiện khác. Quản lý stress và có các phương pháp thư giãn; tạo thói quen đi ngủ và thức giấc đúng giờ, có đủ số lượng và chất lượng giấc ngủ.
Khi có các dấu hiệu nghi ngờ rối loạn lo âu cần tư vấn chuyên khoa tâm thần để được phát hiện, can thiệp kịp thời tránh tình trạng tự điều trị gây ra những hậu quả không đáng có.
Xin trân trọng cảm ơn bác sĩ!
Việt Nam