Phẫu thuật hay can thiệp chỉ giúp loại bỏ sỏi hiện có, trong khi các yếu tố thuận lợi cho quá trình hình thành sỏi vẫn có thể tồn tại trong cơ thể. Nếu không kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ và duy trì chế độ theo dõi phù hợp, người bệnh vẫn có khả năng tái phát.
Theo ThS.BS Nguyễn Trí Cương, Trung tâm Kỹ thuật cao và Tiêu hóa Hà Nội, Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, sỏi mật tái phát thường có biểu hiện tương đối giống với những lần mắc bệnh trước đó. Người bệnh có thể xuất hiện các cơn đau vùng hạ sườn phải, vùng thượng vị, đặc biệt sau khi ăn các thực phẩm nhiều dầu mỡ. Bên cạnh đó là cảm giác đầy bụng, khó tiêu, buồn nôn, chán ăn hoặc e ngại các món ăn chứa nhiều chất béo do dễ gây khó chịu sau ăn.
Một số trường hợp bệnh tiến triển nặng hơn với các triệu chứng như sốt, rét run, vàng da, vàng mắt hoặc nước tiểu sẫm màu. Khi xuất hiện tình trạng sốt kèm vàng da, người bệnh cần nhanh chóng đến cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị kịp thời vì đây có thể là biểu hiện của nhiễm trùng hoặc tắc mật.
Chia sẻ về nguyên nhân sỏi mật dễ tái phát, ThS.BS Nguyễn Trí Cương cho biết một số yếu tố làm tăng nguy cơ hình thành sỏi trở lại gồm: rối loạn chuyển hóa là một trong những nguyên nhân phổ biến, làm thay đổi thành phần của dịch mật. Ngoài ra, tình trạng nhiễm khuẩn hoặc ký sinh trùng đường mật cũng được xem là yếu tố thúc đẩy quá trình hình thành sỏi tái phát.
Các bất thường như hẹp đường mật hoặc tình trạng lưu thông dịch mật kém khiến mật bị ứ đọng cũng làm tăng nguy cơ xuất hiện sỏi mới. Bên cạnh đó, chế độ ăn uống thiếu khoa học với nhiều chất béo, ít rau xanh hoặc việc giảm cân quá nhanh trong thời gian ngắn đều có thể góp phần làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh.
Việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ sau điều trị có ý nghĩa quan trọng không kém quá trình can thiệp lấy sỏi. Đây là yếu tố quyết định giúp hạn chế khả năng tái phát trong tương lai.
Hiện nay, với sự phát triển của các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị hiện đại, phần lớn các trường hợp sỏi mật tái phát có thể được xử trí hiệu quả nếu phát hiện sớm. Tùy thuộc vào vị trí sỏi, kích thước, số lượng sỏi cũng như tình trạng sức khỏe của người bệnh, bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Trong nhiều trường hợp, các kỹ thuật nội soi lấy sỏi hoặc các phương pháp can thiệp ít xâm lấn được ưu tiên nhằm giảm đau, rút ngắn thời gian nằm viện và phục hồi nhanh hơn.
Đối với những trường hợp sỏi phức tạp hoặc có kèm theo bất thường đường mật, phẫu thuật có thể được chỉ định để xử lý triệt để nguyên nhân gây bệnh. Bên cạnh đó, điều trị nội khoa bằng thuốc vẫn được áp dụng trong một số trường hợp nhất định nhằm hỗ trợ kiểm soát triệu chứng, điều trị nhiễm trùng và nâng cao hiệu quả điều trị tổng thể.
Phòng ngừa tái phát sỏi mật không chỉ phụ thuộc vào điều trị mà còn gắn liền với việc thay đổi lối sống và duy trì các thói quen có lợi cho sức khỏe. Do đó, ThS.BS Nguyễn Trí Cương khuyến cáo: Người dân nên xây dựng chế độ dinh dưỡng cân bằng, hạn chế các món ăn chiên rán, thực phẩm chứa nhiều cholesterol, nội tạng động vật... Thay vào đó, cần tăng cường rau xanh, trái cây tươi, thực phẩm giàu chất xơ và duy trì thói quen uống đủ nước mỗi ngày.
Song song với chế độ ăn uống hợp lý, việc duy trì vận động thể lực tối thiểu 30 phút mỗi ngày giúp cải thiện chuyển hóa, kiểm soát cân nặng và giảm nguy cơ hình thành sỏi. Người dân cũng cần tránh các phương pháp giảm cân cấp tốc. Việc tẩy giun định kỳ theo hướng dẫn của bác sĩ cũng là biện pháp cần thiết nhằm giảm nguy cơ hình thành sỏi mật.
Đặc biệt, sau điều trị sỏi mật, người bệnh không nên bỏ qua các đợt tái khám. Siêu âm và kiểm tra sức khỏe định kỳ từ 6 đến 12 tháng/lần giúp phát hiện sớm các bất thường, từ đó có biện pháp xử trí kịp thời.
Kim Cương